thánh gióng

Chuyện Về Phù Đổng (Phần II)

I.ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

Đổng Thiên Vương trang 17

Chuyện Thánh Gióng trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh là Đổng Thiên Vương. Chúng tôi nghĩ một nhà Nho nào đó sau khi đọc Thúc Hốt Hỗn Độn của Trang Tử thông lý với Đổng Thiên Vương: Nguyên nhân bế tắc “manh tâm” giữa Trung ương Thổ do hành Hỏa phương Nam chưa có số 7 thành. Bạn đọc xem hình B.

Hai hành Thủy Hỏa Bắc Nam tượng cho 2 chiếc gióng một đôi quang gánh. Số 5 sinh Thổ tượng cho người gánh đứng giữa. Khi 2 đầu gióng bằng nhau thì người gánh không chung chiêng nghiêng ngả. Tác giả tít Thánh Gióng có lẽ người miền Trung nên quang người miền Bắc cụ gọi là gióng, Thánh Gióng.

Thưa bạn đọc! Như đã nói ở trên, chúng tôi cho rằng chuyện Đổng Thiên Vương dựa và phát triển theo chuyện Thúc, Hốt, Hỗn Độn của Trang Tử. (Nam Hoa Kinh viết theo lối “chương”, Lĩnh Nam chích quái viết theo lối “hồi”. “Hồi” ngoài nghĩa “lối” của văn còn là “trở lại”, trở lại vấn đề trước đó)Thông lệ, dựa vào phát kiến người khác để thành của mình thì cốt chuyện sẽ thay đổi, các tình tiết ắt có gia giảm. Bởi vậy phần nhập đề trang 80 hồi 6 chuyện Đổng Thiên Vương chúng tôi sẽ bàn kỹ. Trước khi vào chuyện, mời bạn đọc chú ý 2 vấn đề liên quan:

1-  Hình vẽ: Tất cả các hình vẽ từ xưa đến nay đều hình dung thẳng đứng từ trên xuống, lấy 4 phương chính Đông Tây Nam Bắc tượng trưng. Nên mục I chuyện Thánh Gióng chúng tôi vẽ đúng phương vị của Cổ nhân ngoại trừ một hai hình. Dịch có câu “lý Ngũ hành, Văn bát quái”. Nghĩa Ngũ hành là phần thực(triết học) còn bát quái phần văn(diễn đạt). Chúng ta thấy rất rõ ở Hậu Thiên bát quái quẻ Kiền Trời xếp phương Tây Bắc. Quẻ Tốn(tốn còn là khiêm nhường chỉ Thổ hữu hình) xếp phương Đông Nam. Ý Chu Văn Vương là: Hành Thủy sinh tại Tây Bắc(không phải chính Bắc). Hành Hỏa sinh tại Đông Nam(không phải chính Nam) như hình vẽ trong các sách Dịch.

Đổng Thiên Vương trang 18

2-  Các con số:

*Số 1 nguyên là số sinh của hành Thủy, số khởi, nếu cộng với số 2 thành số 3.

*Số 2 nguyên là số sinh của hành Hỏa, số khởi, nếu cộng với số 1 thành số 3.

*Số 3 nguyên là số sinh của hành Mộc gồm số 1 lẻ, cơ, Dương cộng với số 2 chẵn, ngẫu, âm đủ “nhất âm, nhất dương”. Kinh Dịch nói Trời tròn, đường kính bằng 1 thì chu vi bằng 3. Số 3 thực là số Trời tượng là Dương trẻ; Được ứng dụng nhiều trong văn hoá như “tam cấp”, “ba thước Đất”, “tam tộc”, “nhất và nhị”, “đơn và kép”. “Biết 1 mà chưa biết 2” là câu các nhà Nho chê bai nhau, tức mới biết ý thứ nhất chưa biết ý thứ 2 coi như không biết…

*Số 4 nguyên là số sinh của hành Kim gồm 2 con số 2 cộng lại(hai lần âm số). Kinh Dịch nói đất vuông, đường kính bằng 1 thì chu vi bằng 4. Số 4 thực là số Đất.

*Số 5 nguyên số sinh của hành Thổ, là lẻ, cơ, dương, ngôi cao nhất trong 5 số sinh của Ngũ hành. Là số lớn, đại trong 10 số Hà đồ và 9 số Lạc thư. Cùng với số 9 Dương già tạo thành cặp từ “cửu ngũ” dùng cho hào 5 ngôi chí tôn quẻ kép.

*Số 6 nguyên số thành của hành Thủy, tượng là Âm già(Lão âm).

*Số 7 nguyên số thành của hành Hỏa. Hỏa tứckhí, Hỏa thành thì biến thành dạng khí mà thượng vân. Bởi vậy số 7 gọi là thất.Thất là mất, lỗi, bỏ qua. Tục cây nêu ngày tết 7 ngày, chuyện Phật đuổi Quỷ ra biển 7 dặm từ con số 7 thất này.
*Số 8 nguyên là số thành của hành Mộc. Là chẵn, ngẫu, âm, lớn nhất trong 5 số chẵn Hà đồ và Lạc thư(số 10 nhỏ hơn số 8 vì diễn số 10: 1+0=1). Số 8 gồm 2 con số 4 đất cộng lại, được gọi là số Thái âm, Âm thông suốt(chữ Bát phường Bát âm từ con số 8 này).
*Số 9 nguyên là số thành của hành Kim phương Tây gồm 3 số lẻ, cơ, Dương 1, 3, 5 cộng lại. Chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử hổi 3, chuyện Thục An Dương Vương hồi 13… Lĩnh Nam chích quái viết theo tư tưởng các con số triết học này. Bạn đọc xem hình 1B.

“An Dương Vương dòng dõi Ba Thục”. Số 3 sinh Mộc bên trái Đông. Thục là chín, đun chín đồng âm với âm 9, số thành Kim bên phải Tây: An Dương Vương vốn là con số 9 Hà đồ.

“Thục thua chạy mãi về phương Nam”: Thục, con số 9 thành Kim Hà đồ chuyển về Nam làm con số 9 Sơn Lạc thư. An Dương Vương thua Tần vì “Bọn Tần bèn làm 5 con trâu đá”: số 5 sinh Thổ giữa.

Đổng Thiên Vương trang 19

Vẫn con số 9. Theo tham Thiên của Chu Hy, số 9 bằng 3 lần con số 3 : 3 x 3= 9. Vì là lẻ, cơ, dương và ở ngôi cao nhất trong  10 số Hà đồ và 9 số Lạc thư, tượng Dương già nên nói số 9 là thành đạt. Phương Đông hữu hình, phương Tây vô hình. Gặp con số 9 Hà đồ phương Tây người xưa thường nói thác đi như “Tứ xuyên” không nói Cửu xuyên. “Kim sơn” không nói Cửu sơn. “Thục xuyên”…Tục không nhắc tới người đã mất(tức khuất núi) dựa vào tính triết học vô hình bên phải phương Tây từ con số 9 Hà đồ thành Kim này.

Lại con số 9 thành Kim. Vì phương Đông hữu hình nên ở Lạc thư người ta dùng thẳng như Cửu long, Cửu khiếu, Cửu tộc, Cửu tuyền, (tuyền là tòan vẹn)ngày 9 tháng 9(Trùng Cửu…).

*Cuồi cùng nhưng lại bắt đầu là con số 10 thành hành Thổ. Nói bắt đầu vì diễn số 10: 1+0=1, số khởi.

Phépdiễn số được ứng dụng rộng rãi trong văn hóa dân gian. Ví như chê một người đàn bà nào đó nhà Nho nọ có câu: “Vô duyên chưa nói đã cười, cười chi mà lại hở 10 cái răng”. Hai hàm răng đâu chỉ 10 cái, diễn số chăng? Nhà Nho này như khẳng định con số 10 là diễn số: “Đi nhai đứng ngậm ngồi cười, vô phúc vô đời mọc 1 cái răng”. Hoặc con số 100 bách với 1 cái bọc, bao, bào trong chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân. 100 là tổng của các số 55 Hà đồ và 45 Lạc thư đủ Hà Lạc, Bắc Nam thể nguyên và dụng. Tưởng số lớn nhưng diễn ra lại nhỏ 100: 1+0+0=1 là số khởi. 100 bách là chẵn, ngẫu, âm số đúng lý phải cho ra con gái vì đàn bà thuộc âm. Nhưng lại nở ra 100 chàng trai do diễn thành 1 lẻ, cơ, dương số(đàn ông thuộc dương). Một nửa 100 bách là 50(50 là số đại diễn, nhỏ nhưng diễn ra lớn 50: 5+0=số 5 đại). 50 theo Âu Cơ lên rừng phương Tây Bắc nơi “Thiên nhất sinh Thủy”. 50 theo Lạc Long Quân xuống biển phương Đông Nam nơi “Địa nhị sinh Hỏa”. Vũ trụ trong chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân là 1 thái cực mới có 2 nghi Âm Dương với 2 hành Thủy Hỏa. Mỗi nghi, mỗi hành nhận 1 số 50 đại diễn(tức số 5 đại) của con số 100 bách(tức số 1 khởi). Số 100, chữ báchgồm chữ bạch, bạch là màu trắng, trắng rõ, không có gì cả ở dưới, chữ nhất là số 1 khởi ở trên. Chuyện đẻ trăm trứng, Rồng bạch trong Lĩnh Nam chích quái sáng tác trên ý tưởng 1 thái cực từ con số 100 bách này. Chúng tôi sẽ tiếp tục bàn ở hồi I, hồi II, thêm cái gọi là dân tộc Bách Việt Lịch sử nước Việt.

Đổng Thiên Vương trang 20

Bạn đọc cùng chúng tôi giở trang 80 Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh. Hồi 6 “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng Thiên Vương vây đánh giặc ân”.
Đề chuyện gồm 2 câu, mỗi câu 8 chữ thểBiền ngẫu dùng cho văn chương thi cử ngày xưa. Thể văn Nôm này rất khó là phải bàn được ý thứ 2. Muốn vậy, thí sinh phải biết xuất xứ đề. Các nhà Nho ở Hà tĩnh truyền kể Nguyễn Du(tác giả Truyện Kiều sau này) thi cử gặp phải thể Biền ngẫu chuyện Cao Biền và Tô Lịch: “Cậy thế đô hộ Cao Biền yểm trấn, sẵn tính anh linh Tô Lịch phá tan” ở cuốn Lĩnh Nam… Nhưng không phải Lĩnh Nam chích quái mà là Lĩnh Nam trích quái lục(?) Cụ bị liệt điểm. Nghe nói 3 năm sau Nguyễn Du trở lại Kinh kỳ để thi tiếp thì được miễn thí. (1)Giờ, 2 câu đề chuyện Đổng Thiên Vương chúng tôi sẽ bàn trước 2 chữ đó là “cấp” và “các” câu nhất.

Chuyện Thúc Hốt Hỗn Độn Nam Hoa Kinh. Con số 5 sinh của hành Thổ giữa Trung ương Trang Tử “văn hóa” bằng nhân vật Hỗn Độn, Tỳ(lá lách), tạng thứ 5 Ngũ tạng của Người. Chuyện Đổng Thiên Vương  cũng vậy.

“Cấp báo”. Cấplà bệnh cấp hạ tức rối loạn tiêu hóa. Có 2 chứng: Chứng thứ nhất táo bón do dạ dày thực nhiệt; Chứng thứ 2 ỉa chảy do dạ dày hư hàn. “Cấp” đây chứng thứ 2. Bạn đọc xem dòng 16 trang 81: “Thư(2) cấp báo ngày mấy lần” và dòng 15 trang 80: “Phương sỹ Phàn a”. Phương sỹlà Thầy thuốc. Phàn a. Alà ỉa chảy. Phànphèn như bạch phàn, 1 phương dược Đông Tây y dùng chữa chứng ỉa chảy. Ta thấy số 5 sinh Thổ Trang Tử ví Tỳ(lá lách) do vận hóa kém phải dùng phép chữa kiện. Chuyện Đổng Thiên Vương ví Vị(dạ dày) do ỉa chảy phải dùng phép cấm cố, thu liễm. Tỳ và Vị cả 2 đều thuộc Thổ ứng giữa Trung ương. (3)Bạn đọc xem hình 2B.

Chú thích: (1)Chúng tôi sẽ chép lại đáp án của Nguyễn Du cuối phần này.
(2)Thưđất lầy,bại hoại.
(3)Tuy Tỳ và Vị đều thuộc Thổ nhưng Tỳ thuộc Ngũ tạng. Ngũ tạng thuộc Dương(trước), Trang Tử ví với số 5 sinh Thổ là đúng. Nhưng Vị thuộc Lục phủ, Lục phủ thuộc Âm(sau). Sinh thuộc Dương, thành thuộc Âm. Vị ứng với số 10 thành Thổ, Đổng Thiên Vương ví vậy là gượng ép.

Đổng Thiên Vương trang 21

Các bô lão đến sân rồng cấp báo”…Cáclà cái ao, cái hộc, cái đấu dùng để đo cho bằng. Chữ này trong dân gian vẫn còn như mỗi khi nhận đồ vật người ta thường bảo nhau phải “ao lại”, tức phải đo lại cho bằng đúng. Hành Hỏa phương Nam sinh sau là vật thứ 2 đo bằng hành Thủy sinh trước vật thứ nhất. Bạn đọc xem chương I Tiêu dao du Nam Hoa Kinh. Đây là chương Trang Tử bàn về số 1 sinh của hành Thủy khởi đầu vũ trụ. “Bể Bắc có loài cá, tên nó là côn…hóa mà làm loài chim, tên nó bằng…”

Cá thuộc âm, Thủy thuộc âm nên ví cá(cá còn đọc cả, nghĩa Bắc với hành Thủy chỉ là phương lớn, hành lớn). Chim thuộc dương. (1)Là lẻ, cơ, dương số nên số 1 sinh Thủy tác giả ví chim, Chim bằng.

Trong tự nhiên có loài chim lớn thế không mà dòng 5 trang 29 nói: “…Cánh của nó như đám mây rũ ngang trời. Loài chim ấy bể động thì dời sang bể Nam…”Dòng 9: “đi 6 tháng mới nghỉ”. Bạn đọc xem hình 3B. Hà đồ là vòng quay của 1 năm: Đông sinh Xuân, Xuân sinh Hạ, Hạ sinh trưởng Hạ, trưởng Hạ sinh Thu, Thu sinh Đông.Từ Bắc sang Nam tức từ Đông sang Hè nửa năm, 6 tháng. Chim bằng là số 1 sinh của hành Thủy!

Chú thích:
(1)
Dương có tính thượng thăng (âm có tính hạ giáng) mà lên với người Thiên cổ. Gà thuộc bộ điểu, chim. Tục cúng gà trống non chưa đạp mái tức thuần dương (số 1 sinh của hành Thủy thuần dương, chưa phối ngẫu với âm số 6 thành) từ tính triết học này.


Đổng Thiên Vương trang 22

“Chim bằng”. Bằng từ thành ngữ “bằng ngang phải lứa”. Bằng, bình, biền nhưThủy bình, nước bằng phẳng. Nghĩa là hành Thủy tuy sinh trước nhưng cũng chỉ ngang bằng với 4 hành Kim, Mộc, Hỏa, Thổ còn lại. Triết lý này Trang Tử đã khẳng định ở chương II Tề vật luận: 5 vật Kim Tây số 4, Mộc Đông số 3, Thủy Bắc số 1, Hỏa Nam số 2 và Thổ Trung ương số 5 đều bằng nhau. Trong 5 hành Ngũ hành thì 2 hành Thủy Hỏa quan trọng nhất cho sự sinh hóa vạn vật. Chúng như 2 cái “các”, ao đo nhau. Bạn đọc xem dòng 6 trang 29: “…Bể nam là ao Trời…” và dòng 15, 16 trang 30 “…phía Bắc miền hiếm cây…” có bể thẳm tức ao Trời(1)…” Đáp ý “bằng”, “ao” của Trang Tử, tác giả chuyện Đổng Thiên Vương thuận lý dùng “các” cho đề chuyện “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng Thiên Vương vây đánh bại giặc Ân”. Chúng tôi tiếp tục:

“Hồi 6”… “Thời (thì) Hùng Vương ngành(nhánh, chi) thứ 6”. Đúp số 6. Sơ ý lặp tự chăng? Không phải! Đây là phép xướng đề. Mục đích hướng người đọc vào vấn đề tác phẩm (như số VII, 7 khiếu, 7 ngày chuyện Thúc Hốt, Hỗn Độn của Trang Tử). Bạn đọc xem hình 4B. Trong hình, 6 là số thành hành Thủy. Lặp con số 6 nghĩa là khi hành Thủy phương Bắc bắt đầu vào giai đoạn thành 6 thì hiện tượng gì sẽ xảy ra với 4 hành Kim, Mộc, Hỏa, Thổ vẫn ở giai đoạn sinh. Trực tiếp là Hỏa vì Thủy khắc Hỏa và Thổ vì Thổ khắc Thủy. Chúng ta dễ nhận phép xướng đề ở “Hồi 1 họ Hồng bàng đầu tiên, đầu tiên là số 1. Hồi 2 thời Hùng Vương ngành thứ 2 chuyện Lạc Long Quân diệt Ngư tinh. Hồi 3 thời Hùng Vương ngành thứ 3 chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử, đầm(đoài). Hồi 4 thời Hùng Vương ngành thứ tư chuyện trầu cau anh em Tân Lang. Hồi 5 thời Hùng Vương ngành thứ 5 chuyện dưa hấu An Tiêm. Hồi 7 thời Hùng Vương ngành thứ 7 chuyện cáo 9 đuôi. Hồi 8 thời Hùng Vương ngành thứ 8 chuyện Quỷ Xương Cuồng. Hồi 9 thời Hùng Vương ngành thứ 9 chuyện Lang Liêu và bánh trưng…”

Chú thích:

(1)Đọc thì ao là hồ. Chữ hồ 2 tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc Trung quốc từ “các” ao này.

Đổng Thiên Vương trang 23

Chúng tôi tạm dừng 2 chữ “cấp” và “các” đề chuyện Đổng Thiên Vương để cụ thể thêm đôi điều về Hà đồ Kinh dịch.Bạn xem hình 5B. Trên hình là 10 con số sinh và thành của 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Số sinh là số to đậm, số thành là số nhỏ mảnh.

Sinh và thành của Ngũ hành không phải diễn ra cùng 1 lúc mà thứ tự lần lượt nhưng thúc hốtchớp nhoáng rất nhanh. Giai đoạn sinh thì Thủy Bắc số 1, Hỏa Nam số 2, Mộc Đông số 3, Kim Tây số 4 và cuối giai đoạn sinh là số 5 Thổ giữa Trung ương.

Giai đoạn thành của Ngũ hành cũng bắt đầu từ Thủy. Thủy Bắc số 6, Hỏa Nam số 7, Mộc Đông số 8, Kim Tây số 9 và cuối giai đoạn thành là Thổ số 10 thập toàn. Do 1 sinh 1 thành công dụng nên Hà đồ Kinh dịch gọi gộp số sinh và thành của từng hành lại với nhau. Như về hành Thủy “Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, Đất lấy số 6 mà làm cho thành Thủy”. Về hành Hỏa “Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, Trời lấy số 7 mà làm cho thành Hỏa”. Hành Mộc “Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, Đất lấy số 8 mà làm cho thành Mộc”. Hành Kim “Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, Trời lấy số 9 mà làm cho thành Kim” và hành Thổ “Trời lấy số 5 mà sinh hành Thổ, Đất lấy số 10 mà làm cho thành Thổ”(1).

Chú thích:
(1a)Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành Thủy. Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành Hỏa. Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành Mộc. Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành Kim. Thiên Ngũ sinh Thổ, Địa thập thành Thổ. Đây là cách nói của Thiệu Khang Tiết Mai hoa dịch.
(1b)Số thứ tự của 10 Can(can chi): Giáp số 1, Ất số 2, Bính số 3, Đinh số 4, Mậu số 5, Kỷ số 6, Canh số 7, Tân số 8, Nhâm số 9, Quý số 10. Chúng được xếp theo từng cặp 1 số sinh 1 số thành của Ngũ hành. Do vậy tuổi người đứng ở hàng can Giáp hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can Kỷ(số 1 hợp số 6, Giáp hợp Kỷ). Tuổi người đứng ở hàng can Ất hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can Canh(số 2 hợp số 7, Ất hợp Canh). Tương tự Bính hợp Tân(số 3 và số 8). Đinh hợp Nhâm(số 4 và số 9). Mậu hợp Quý(số 5 và số 10).


Đổng Thiên Vương trang 24

Chu dịch là bộ sách chiêm phệ cổ đại…có quan hệ mật thiết tới triết học, tôn giáo, phong tục dân tộc…”(Thiệu Khang Tiết, Thiệu ung-Mai hoa dịch)

Trong cuốn Kinh dịch đạo Người quân tử, tác giả Nguyễn Hiến Lê nói rằng Tây như người Đức có Jung “là 1 trong những thủy tổ Phân tâm học…chuyên nghiên cứu tiềm thức con người”. (1)Jung bắt chước Thiệu ung bói việc trên 64 quẻ kép.

Chú thích:(1)Phân tâm mà là tiềm thức ư? Jung (tính từ trẻ) với phân tâm chúng tôi không biết. Nhưng…Frerd là bác sỹ thần kinh Đức với Phân tâm, môn khoa học về “Tâm không chủ định”. Chúng tôi biết ông còn sang cả phương Đông với Ngũ hành, 1 học thuyết quyết định cho cái tên “Văn minh sông Hằng”. Bạn đọc xem hình . Đây là biểu trưng nước Đức Deutschland những năm 1930 và cũng là hình trên ngực Phật khi giáng thế. Nhà chùa nói rằng đó là chữ Vạn. Theo cố Nhà sư Thiều Chửu thì tiếng Phạn và Hán tự không có chữ nào như vậy cả. Kia là hình tướng chứ không phải chữ. Là hình tướng, chúng tôi nói hình tướng Ngũ hành. Gốc hình này là 1 dấu cộng giống chữ Hán + thập tượng cho 4 phương chính Đông, Tây, Nam, Bắc. 4 đầu dấu cộng đính với 4 vạch ngắn như 4 cái đuôi để diễn đạt hình khi quay. Nếu quay theo chiều thuận thì cái đuôi đi sau. Người cổ Ấn độ giải thích thế giới bằng thuyết Ngũ hành của họ cho rằng: Vũ trụ được sinh ra bởi 5 thứ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bạn đọc xem 2 hình 6B. “Đạo Trời quay từ trái sang phải”. Hình 6Ba là tướng Ngũ hành biểu trưng cho Trời, Phật, những khái niệm gọi Đấng tối cao. Như đã nói, Frerd rất tâm đồng với Ngũ hành. Nhưng đâu biết đã  mớm văn cho Hittler sau này dựng tượng Đế chế Đức một thời mưa gió, ông ta muốn là Trời Phật của nhân loại.(Ingrid Rady, Der Operationssaal war schon vorbereitet, Berlin Mai 1972)

Đổng Thiên Vương trang 25

Nhưng tác giả Lê Chí Thiệp trong Kinh dịch nguyên thủy Nhà in Khai trí Sài gòn 1973 lại nói: Nguyên thủy của Kinh dịch gồm Âm Dương, Ngũ hành, (Hà đồ, Lạc thư)Can chi, Bát quái mới là phần dùng để xem bói. Tác giả Nguyễn Hữu Lương trong Kinh dịch với Vũ trụ quan Đông phương Nha tuyên úy Phật giáo ấn hành 1971 ý cũng tương tự.(Theo Lê Chí Thiệp: Trùng quái tức 64 quẻ kép do người Việt thường vẽ ra không biết để làm gì.Người đời sau cài đặt các tư tưởng Nhân sinh quan vào các vạch). Nói Kinh dịch Nguyên thủy là nói tới Ngũ hành tức Hà đồ, Lạc thư.

Học thuyết Ngũ hành quan trọng nhất trong 1 tập hợp có hệ thống Triết học Đông phương. Như nói Ngũ hành đã có Âm Dương, nói Can Chi đã có Ngũ hành, nói Vận khí đã có Can Chi…Thuyết Ngũ hành bị người phái thực nghiệm phản đối, họ cho là hoang tưởng. Nhưng năm, tháng, ngày giờ với Can Chi từng người đã chiêm nghiệm và, thực tế rất hiển nhiên: Đông y vận dụng thuyết Ngũ hành, Vận khí trị bệnh đạt kết quả mỹ mãn. (1)Bạn đọc xem hình 7B.

“Kinh dịch là 1 kỳ thư…Khó xem do lời văn ngớ ngẩn đột ngột, chủng chẳng rã rời như lời bọn đồng cốt…Đôi chỗ chưa đúng văn pháp…Tinh thần Kinh dịch…nói con Rồng chưa chắc đã con Rồng…”(Dịch giả Ngô Tất Tố_Kịch dịch)

Chú thích: (1)Ngũ tạng của con người thì Gan thuộc Mộc, Phổi thuộc Kim, Thận thuộc Thủy, Tỳ(lá lách thuộc Thổ). Bệnh Gan hư ngoài trị chứng, Đông y còn phải bổ Thận Thủy vì Thận Thủy là mẹ của Gan Mộc(Thủy sinh Mộc). Ngoài ra tùy theo Vận của từng năm, Khí của từng 6 tháng đầu hoặc cuối năm mà dùng phép nhuận, thanh Phế Phổi vì Phổi Kim khắc Gan Mộc(Kim khắc Mộc). Tương tự Tỳ Vị hư hàn gây chứng ỉa chảy phải bổ Tim Hỏa vì Tim Hỏa là mẹ của Tỳ Vị Thổ(Hỏa sinh Thổ). Ngoài ra phải dùng phép bình Gan vì Gan Mộc khắc Tỳ Vị Thổ(Mộc khắc Thổ)…

Đổng Thiên Vương trang 26

Là thư, văn phải tự, chữ.Hà đồ và Lạc thư là Học thuyết Ngũ hành. Nhưng tại sao Kinh dịch không 5 vật cho dễ hiểu mà phải “chủng chẳng” Bát tự “sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư”. Khiến cho kẻ văn bất đắc dĩ như  chúng tôi nhiều khi phải “rã rời” buông bút: “sông Hà là sông Hoàng hà…”. “Sông Lạc là 1 nhánh của sông Hoàng hà…” Tinh thần Kinh dịch. Nói long chưa chắc đã Rồng phải chăng nói Hà chắc gì đã sông. Vậy sông Hà ở đây là gì? Chúng tôi tự hỏi vì 2 chữ sông và Hà dường như 1 nghĩa “giang”. Nếu thế là sai văn pháp.

Trên kia, trên cả Tây bắc Trung hoa, bên kia ngọn Hymalaya là Ấn độ(1). Quốc gia của nền Văn minh tối cổ này có 1 con sông tên chữHằng nghĩa là lâu bền mãi mãi. Chúng tôi cho rằng Hà và Lạc trong 8 chữ sông Hà hiện đồ sông Lạc hiện thư không phải “thực” mà là “Văn”, sông Văn. Chúng có quan hệ tinh thần với xứ Thổ dân Indi’a trên kia.

Người xưa lấy sông núi để chia các vùng đất gọi làchâu. Như Châu ô, Châu lý(2). Sông Hán, sông Nguyên(3). Mỵ châu(4), Phong châu(5)…“Sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư”. Sông lạc. Lạc là vui thích, Âm nhạc tượng cho phương Nam. Sông Lạc là vùng đất người phương Nam. Biết Nam, vế chính sẽ là Bắc. Sông Hà. Hàlà sông Thiên hà trên Trời. Làm gì có Trời với cả sông trên ấy. Phải chăng Hinduganga mà người Indi’a(6) gọi sông Hằng?

Chú thích:

(1)Âm Ấn độ được phiên từ âm tiết Indo trong các chữ hệ Latinh. Như Indo’European, tiếng Anh là loại ngôn ngữ kết hợp giữa tiếng Ấn và tiếng Âu. Khởi nguyên chữ Hán là tiếng Phạn. Indo chúng tôi dịch âm là Ấn độ. Ấn: in, con dấu, khắc chữ…Độ: Thổ độ, đất, đất có người sinh sống, Thổ dân, giống Thổ, 1 âm(Nhạc) gọi là Đô…Indo ý Ấn độnhư 1 trong những cái nôi của Nhân loại.

(2)Ô là màu đen, màu đen thuộc Thủy. Thủy sinh tại Bắc. Châu ô là vùng đất của người phương Bắc. Lý từ chữ Lý dép, quẻ Thiên trạch lý trùng quái phương Đông Nam. Châu Lý là vùng đất của người  phương Nam.

(3)Hánlà chỗ sườn núi có thể làm nhà ở được. Háncòn là 1 giống ở cao nguyên Tây tạng trước thời Hoàng đế. Sông Hán là vùng đất của người Hán. Nguyênlà vốn như nguyên bản. Nguyên còn là bắt đầu, xuất phát, to lớn. Sông Nguyên ý vùng đất của ThổĐộ.

(4)Mỵ Châu. Mỵlà ngủ say. Châu là vùng đất.Châucòn là Ngọc châu Ngọc trai. Ngọc tượng cho phương Đông(Vàng tượng cho phương Tây). Mỵ Châu là vùng Đất phương Nam còn ngủ say.

(5)Hoàng Đế nội kinh là sách gối đầu của Nhà y. Giải thích Gan, 1 trong 5 Tạng con người, sách viết: Đông phương sinh Phong, Phong sinh Mộc, Mộc sinh toan, toan sinh Can. Nghĩa là phương Đông sinh ra gió, gió sinh ra cây, cây sinh ra vị chua, vị chua sinh ra Gan. Phong Châu là vùng đất của gió. Quẻ Tốn gió Hậu thiên bát quái xếp Đông Nam từ tính triết học này).
(6)Các chữ hệ Latinh như Indi’a, Indi’an, Indi’genous, Indi’genducspeopl, Indi’aner… gốc từ là Indi. In: ấn, con dấu, khắc chữ. Đi: hành,in ấn xong phát hành ra gọi là Indi.

Đổng Thiên Vương trang 27

Hindu’ganga là 1 từ thuộc hệ Ngôn ngữ Ấn Âu gồm 2 thành tố. Tiền Hindu tiếng Ấn, hậu ganga tiếng Anh. Gan’ga. Gan gốc từ của gander con ngỗng đực tiếng Anh, gans tiếng Đức. Để không nhầm với duck con vịt(1) ngụp lặn tác giả Hindu cho thêm ga, ganga. Tiếng Anh ga là 1 thứ Kim loại. Hành Kim Ngũ hành sinh thành tại Tây, ganga là con ngỗng Kim Tây.

Tiếng Phạn có âm viết được thành chữ nhưVăn. Nhưng rất nhiều âm dùng để nghe nói. Hin’du gồm 2 âm Hin và du. Hin chúng tôi dịch âm là hạn, đại hạn. Ấn độ nắng nhiều nên Hin hạn. Nắng tức Hỏa, Hỏa nhẹ ở trên(Thủy nặng ở dưới). Hỏa tức Khí, Khí nhẹ ở trên(khí nặng ở dưới). Nắng nóng đi với táo khô, khô ở trên(ướt ở dưới)…Một xứ sở ở trên cao nắng lửa táo Khí(2) như vậy nên là hạnHin, Hin’du.

Nghe nói Hán Vũ Đế(3) người Tàu có cái thú chơi đu treo. Chúng tôi xin mượn 1 chữ trong tên thường gọi vị Đế này để bàn tiếp 2 chữ “sông Hà” Kinh dịch.

Ấn độ phương cao gần mặt trời nên Hin hạn. Chữ Thiên nghìn treo dưới chữ nhật, Mặt trời. Người Trung Hoa nói họ là người Hán. Bạn đọc nhìn lại chữsườn núi có thể làm nhà ở được. Hán này gồm chữ nhất, khởi ở trên và chữ phiệt phây tượng cho 1 nửa trái Đông. Nhà ở tức người sinh sống. Có 1 giống sau này gọi Hán từ bên kia men theo Hymalaya đến lập sinh ở cao nguyên Tây tạng cùng tiếng Phạn tối cổ.

Chủng người nào cũng đều có tiếng nói(Ngôn) và chữ viết(Ngữ) riêng. Nếu không, họ là kẻ từ nơi khác đến. Hán tự dựa vào âm, dựng lại chữ từ tiếng Phạn Ấn độ. Tiếng Trung ngày nay là thể giản tiện từ chữ Hán. “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mất chữ viết còn tiếng nói. Người Trung Hoa không có ngôn ngữ riêng. Phải chăng tổ tiên của họ là Indo Ấn Độ rồi Indi ấn hành mà thành cái tên như nửa Ấn nửa Âu Indo China?

Chú thích:

(1)“Tả dực hữu dực” là 2 cánh chim trái, phải. Đều ở bộ điểu, vịt biết ngụp lặn thuộc Âm. Vụ Tiên phi tần của Để Minh hồi 1 Lĩnh Nam chích quái làcon vịt trời bể Nam Đông thổ Tả dực.

(2)Táolà 1 trong 6 khí(phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt) lưu hành trong năm. Khí táo ứng mùa thu bên phải Tây gọi là dương minh táo Kim(khí phong ứng mùa xuân bên trái Đông gọi là quyết âm phong Mộc). Hoàng đế nội kinh giải thích phổi Ngũ tạng của con người như sau: “Tây phương sinh táo, táo sinh Kim, Kim sinh tân, tân sinh phế”. Nghĩa là phương Tây sinh khí khô, khí khô sinh Kim, Kim sinh vị cay(tân là cay), vị cay sinh phổi.

(3)Tức Hán Cao tổ diệt nhà Tần(còn gọi là Tiền Hán hay Tây Hán). Người đời sau tôn ông là Hán Vũ Đế.

Đổng Thiên Vương trang 28

Hin là hạn, đại hạn.Hạn thường đi với hán thành cặp “hạn hán”. Trung hoa phương Mặt trời mọc: Hánkhô, phơi khô chữ nhật vế trước; Vế sau gồm 3 chữ: Thảo(mộc) tượng cho Đông ở trên, Thiên(trời) tượng cho Nam ở dưới và Trung tượng cho Đông Nam ở giữa(1).

Phương Tây cao, phương Đông Nam thấp. Đông Nam thuộc Thổ hướng biển Thủy hữu hình, ứng tháng 3 Thìn, thời tiết bắt đầu nóng nhưng ẩm ướt(2). Do vậy hán của Trung hoa tuy khô nhưng phải phơi(vì ẩm ướt nên phải phơi khô). Bạn đọc xem 2 chữ(3). Vế sau 2 chữ trên đều tượng cho Đông Nam(chúng chỉ khác nhau ở bộ: “Giống Hán” bộ Thủy, “hán phơi khô” bộ Nhật). Hạn hán là 1 cặp từ chính hoá(4). Cùng âm han nên chúng rất dễ chuyển giao vị nghĩa(5). Tương tự gan’ga tít sông Hằng, tác giả cho thêm du vào Hin. Hindu là: Du chủ của Hin. Trò đánh đu của Hán Cao Tổ là thú đố chữ của nhà Nho. Bạn đọc xem hình 8B. Hán khô, phơi khô như bám lên Du Hin. Đều ở bộ cách: Da lông con thú bỏ đi, Cái đuđọc Thu Thiên. Cây đucũng đọc Thu Thiên.  Thu Thiên, Thiên Thu. Người đời sau căn vào âm Thu, Thiên chế ra chữnghìn năm dùng chúc thọ Vua.

Chú thích:

(1)Trời(thiên) chữ nhất ở trên, chữ đại ở dưới. Đạo trời quay từ trái sang phải. Đông đến trước Nam nên dù Thiên(trời) cũng phải dưới thảo(Mộc). Trung là giữa Đông và Nam.

(2)Lễ cầu mát nhà Trịnh ngày xưa vào đầu tháng 3 âm lịch.

(3)Mầm giống đọc nha nhưnha đậu, mầm của đậu. Đậu là đỗ, đỗ là độ, độ đọc Thổ. Giống Hán là cái mầm của ThổĐộ. Tiếng Phạn gọi Trung hoa là China. Chi là nhánh thứ. Na đọc là chăng, trang nhưtrang trại.China là 1 ấp, trang trại thuộc Ấn độ.

(4)Chính hóa là 2 mặt Âm Dương. Hóa là biến đổi, biến hóa để nên công dụng. Bắc chính thì phải có Nam hóa. Như chi Tý Bắc chính chi Ngọ Nam hóa. Tây Bắc chính thì Đông Nam hóa, chi Tuất Bắc chính chi Thìn Nam hóa…

(5)Sang Nam, hậu duệ của Hán Vũ Đế “tự cao” là người Hin Ấn độ. 1 câu tục ngữ vẫn còn lưu trong trí người già: “Khô như treo ghe”. Ghe là cái thuyền và cũng như 1 cái vật gì ở dưới. Khô như treo tức cái ở dưới đó được treo lên mà trên nó không có 1 cái gì đè lên. Hin hạn Ấn độ khô nhưng không ướt. Hán Trung hoa tuy khô nhưng lại ướt. “Khô như treo ghe”. Hán của các Ngài chỉ là ghe chài ngoài Nam hải, phương Đông Thổ; Vị 1 cái đảo có liền 2 vần ôn của nước Nam mà thôi. Côn lôn!

Đổng Thiên Vương trang 29

Đến đây bạn đọc đã đoán được ý đồ người dịch Hinduganga. Thiên Thu là lời chúc thọ Vua về cõi ngàn năm. Tiếng Phạn không có chữ vạn. Do nạn xưng Đế tràn lan, đến thời Chu, các nhà Nho căn vào âm wãn của hình tướngtrên ngực Phật chế ra chữvạn. Wãn này ngoài nghĩa 10 ngàn còn là muôn kể. “Vạn tuế”, “Muôn tuế” là lời chúc thọ dành cho các vị Hoàng đế.

Hạn hán. Hán là nhánh Đông đầu lòng(1) của hạn, Hin Ấn độ. Từ Tây Bắc Trung hoa giống Hán phát triển xuống Đông Nam, sang tả hữu lập những quốc gia riêng biệt. Trước khi chuyển sang Tây: Ai cập, Hy lạp…chúng tôi mách trước với bạn đọc: Quốc gia Miến điện Myama là 1 cành nhỏ của giống Hán. Bạn đọc xem 2 chữ Myama và Mycenae(thời kỳ tối tăm của lịch sử Hy lạp). My là mi E, nốt thứ III 7 nốt nhạc Dô, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si. ĐộThổ nốt I, Hán nốt II, Mi của Myama và Mycenae là nốt III. Mađại ma gồm chữ lâm rừng bên phải Tây đặt dưới chữ nghiễm. Đại ma ý Miến điện Myama là 1 quốc gia lớn sinh ra dưới mái nhà; ChỗHán, sườn núi có thể làm nhà ở được. Myama và Mycenae là 2 vùng đất số thứ 3 từ tư tưởng Lão tử: “Đạo sinh 1, 1 sinh 2, 2 sinh 3, 3 sinh tất cả”(2). Số 3 là tổng của 1 và 2, nó sẽ bắt đầu cho các số còn lại 10 con số Ngũ hành.
Thưa bạn đọc! Chúng tôi đang bàn về “sông Hà” Kinh dịch.
Lưỡng Hà là 2 con sông trên “Trời”. Khu vực Lưỡng Hà ngày nay gồm nhiều quốc gia trong đó có Ấn độ và Ai cập là 2 cái nôi Văn minh nhân loại. Sông Hằng có trước sông Nin hay ngược lại? Cả 2 có quan hệ giống cành gì như Indo và China? Đây là vấn đề Triết học còn quan tâm. Người ta đưa ra nhiều thuyết như Nhị nguyên, Nhất nguyên… Nhị nguyên cho rằng bản thể vũ trụ khởi phát từ 2 điểm khác nhau. Còn Nhất nguyên thì luận sự sống trái đất bắt đầu từ duy nhất 1 tâm điểm. Đại biểu thuyết này làtagore(571-447 TCN).
Pitago là nhà Triết học cổ đại Hy lạp thuộc phái Duy tâm. Bạn đọc nhìn chữ cái đầu trong tên Ông. Tiếng Hy lạp được phiên từ tiếng tượng hình Phoen’ici = Phạn(3). Pi là chữ nhân như người què chân đội đầu chữ – nhất. Pitago cho rằng bản thể vũ trụ khởi phát từ duy nhất 1 tâm điểm Indo, Ấn độ. Vì thế gọi ông là Duy tâm. Coi trọng tâm điểm nhưng Pitago liên kết Đông Tây để giải thích thế giới. Cũng do vậy gọi ông là liên minh. Trường phái liên minhtagore.

Chú thích:

(1)Nói đầu lòng vì Hạn Hán giống nhau ở hạn. Con đầu lòng bao giờ cũng mang gen cha mẹ nhiều hơn.

(2)Lão tử người Ai cập?

(3)Phạnlà cơm, ăn cơm, cho muông ăn, ngậm. Ăn cơm tức cơm bữa, muông tức sự sống vẫn còn hoang dã; Ngậm, ngậm miệng, chứa. Phạn là ngôn ngữ tối cổ. Dùng thường ngày như cơm bữa mà ngậm, chứa ý tứ sâu xa.

Đổng Thiên Vương trang 30

Bạn đọc xem ảnh chụp chân dung Pitago, bức tượng thuộc phái Siêu thực.
Một nửa phần trên Pitago đặt giữa 1 tấmbảng yết thị (thuộc bộ phiến có 1 nghĩa là danh thiếp). Giữa tấm yết thị là chân đế ôm, đỡ 1 ý Văn kiểu phương Đông. “Trời tròn Đất vuông”. Cái khăn vấn đầu màu trắng khởi từ trái sang phải theo chiều Ngũ hành tương sinh kiểu Ấn độ(người Hy lạp mặc áo choàng và đội mũ). Trong con Người đầu thuộc Dương Trời, thân thuộc Âm Thổ nên thân Pitago vuông đặt trên 1 cái đế cũng vuông tượng cho Đất. Chú ý nhất là râu. Bộ râu quặp kiểu “nhất vợ nhì giời” và cả tóc mai ôm lấy râu cằm. Râu cằm là 1 chòm nhưng đây tẽ làm đôi. Hình hài như 1 vật gì đó nửa lạ nửa quen. Tác giả ý gì vậy? Chúng tôi xin 100 lạy. Mong hương hồn Pitago tha thứ rằng hậu sinh chỉ bàntượng, không dám bàn con Người thực thể của ông.
50 năm tiếp xúc với văn hóa  Ấn độ, tư tưởng Pitago bị ảnh hưởng rất lớn. Nhà Triết học thấy các sách như Vệ đà, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư…đều là sách bàn lẽ Trời Đất. Nhưng khác người Hy lạp, những tư tưởng Triết học Âm Dương, Ngũ hành, Can chi, Vận khí, Bát quái và cả  Trùng quái; Chúng đều được người bản địa diễn thành Nhạc, Văn, Hội họa.
Triết học Ấn độ coi Âm, Sắc là 2 trong nhiều mảng cấu thành. Âmtiếng. Tiếng phát ra có điệu, trong đục, cao thấp; Tiếng phát ra thành Văn Ngôn cả 2 đều là Nhạc Văn. Sắcmàu. Như Ngũ sắc(xích hắc thanh hoàng bạch). Sắc đẹp, bóng dáng, cảnh sắc, sắc tướng…Tất cả đều là Sắc. Ảnh hưởng hoàn toàn Ấn độ nên dù ở Hy lạp, Pitago còn hoạt động cả Nhạc Họa. Ngoài 2 lĩnh vực chung Triết học, Toán học, trường phái này còn có đóng góp to lớn cho nền Âm nhạc và Hội họa nhân loại. Đặc biệt là Hội họa Siêu thực như bức chân dung nhà lãnh đạo Pita.

Đổng thiên vương trang 31

Chúng tôi tiếp tục về râu ria của Pita(1). Ria mép ông chia 2, nửa non vểnh lên nửa già quặp xuống. Bạn đọc nhìn râu và miệng, chúng hoàn toàn là phần dưới con Người: Môi là đai lưng. Râu cằm đôi nửa là 2 ống quần giạng ra, giữa là cái lỗ, như má phải còn dính bết 2 sợi “tóc”. Nửa non ria mép Pita vểnh lên tượng cho tư tưởng Hy lạp. Nửa già quặp xuống tượng cho tư tưởng Ấn độ ôm lấy hình vật người đàn bà.
Râu ria Pita chỉ gây chú ý, không quyết định. Cái mũi của ông thoáng nhìn bỏ qua nhưng quyết định chủ đề bức tượng.

Theo sắc tướng Ấn độ, từng bộ phận trên mặt Người đều ứng với Ngũ hành. Như tai phải thuộc Kim, tai trái thuộc Mộc, cằm thuộc Thủy, trán thuộc Hỏa và mũitỵ thuộcThổ. Mũi cao thẳng, sắc tím tía treo như buồng mật con bò là tướng mũi cựphú. Loại mũi này dân gian Việt nam gọi mũi Hin.

Tỵ là núm cái ấm trà, cái núm con dấu in ấn. Bạn đọc xem 5 chóp mũ, đầu con cá(trái), đầu ngọn đèn đỏ(phải) của bức họa Bà la môn. Chúng được cách điệu từ 2 cái núm nói trên.
Không chỉ cái mũi, núm ấm trà, núm con dấu in ấn; Tỵ còn là trước tiên như Ông thủy tổ tục gọiTỵ tổ.

Chú thích:

(1)Tiếng Anh Pit-a‘-pat là âm(tiếng). Âm tiếng là 1 thành tố Âm nhạc. Tiếng Phoen’ici = Phạn là tiếng tượng hình(sắc). Hình sắc là 1 thành tố Hội họa. ‘tagore, hình tiết và âm tiết Pita diễn đạt tư tưởng Nhạc Họa của ông.

Đổng thiên vương trang 32

Chúng tôi tạm thời dừng 2 cái mũi Ấn độ và Hy lạp chuyển sang lĩnh vực Âm nhạc và Toán học của Pitago.
Nghiên cứu Âm nhạc, Pitago dùng âm Do Ngũ cung thêm vào 2 nốt phụ cho đủ thất cung 7 âm. Trên cơ sở Dur tự nhiên, Moll tự nhiên phương Tây, ông thay đổi 1 hai nốt thành 7 điệu thức cổ Hy Lạp: Dorien, Ionen, Hypophriden…(1)Bạn đọc xem 5 nốt của âm ĐộThổ:(2)

Âm do Ấn độ 1 2 3 (?) 4 5 (?)
đô mi xon la
và Dorien Hy lạp I II III IV V VI VII
Do Re Mi Fa Sol La Si

Ta thấy ĐộThổ có 5 âm đô, rê, mi, xon, la(không có Fa, Si). Nhưng Do Hy lạp có 7 âm (thêm 2 Fa, Si). Ngành Nhạc gọi điệu thức Do’ri’an, thuộc về âm Do và âm Re. C Dur đô trưởng ngày nay nhân loại đang dùng chính nó.
Là Triết gia kiêm toán, Pitago dùng 4 trong 10 con số Ngũ hành để giải thích hình học, ông cho:

* Số 1 là tâm, kẻ 1 đường thẳng đến điểm 2. Tuy ngẫu, chẵn, âm số nhưng số 2 là số sinh của hành Hỏa. Hỏa thuộc dương(Thủy thuộc âm), số 2 là đường.
* Số 2 là đường, kẻ tiếp 1 đường thẳng đến điểm 3. Số 3 là diện tích.
* Số 3 là diện tích. Là số sinh của hành Mộc gồm số 1 cộng số 2. “Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo”. 1 số dương và 1 số âm, số 3 được coi là số Trời. “Trời tròn, đường kính bằng 1 chu vi bằng 3”. Số Pi ≥ 3,14 dùng để tính diện tích đường tròn của tagore.(là chữ cái đầu trong tên ông).
* Số 4 là thể tích. Từ 3 điểm của 3 góc tam giác tâm, 2,3 Pitago nối chúng với điểm thứ tư. Bạn đọc xem hình dưới. Thể tích là dạng chứa đựng, Pitago lấy nó tượng cho đất.

Chú thích:

 

(1)Điệu thức dân ca Nam bộ Việt nam: Moll(thứ) tự nhiên nhưng nốt VI được tăng lên ½ cung là Ionen:

DMoll Nam bộ: I II III IV V VI VII VIII
Re Mi Fa Sol La Si Do Re

Điệu thức các nước khối Ả rập: Moll(thứ) tự nhiên nhưng nốt II hạ xuống ½ cung là Hypophriden:

EMoll Ả rập: I II III IV V VI VII VIII
Mi Fa Sol La Si Do Re Mi

2)Còn gọi là cung của Ngũ âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Mỗi âm đều ứng với 5 trong 10 con số 1, 2, 3, 4, 5 của Ngũ hành. Như âm Cung thuộcThổ số 1, âm Thương thuộc Kim số 2, Giốc thuộc Mộc số 3, Chủy thuộc Hỏa số 4 và Vũ thuộc Thủy số 5. Nhạc Ấn độ ghi bằng số gọi là Nhạc số.

Đổng thiên vương trang 33

Thưa bạn đọc! Chúng tôi vẫn đang bàn “Sông Hà” Kinh dịch.
Quốc ngữ Việt Nam thuộc hệ La tinh được người Pháp phiên âm từ chữ Nôm. Chữ Nôm là thể “ nôm na” trên nền tảng chữ Hán. Chữ Hán lại dựa và phát triển từ tiếng Phạn.
Quốc ngữ Pháp như thừa kế tiếng Ai cập. Tiếng Ai cập cũng phiên từ 1 loại tiếng tượng hình Phoen’ix = Phạn(1). Chúng tôi nghĩ phải chăng “qui về 1 mối” Phạn mà với Việt nam, người Pháp dịch được nhiều chữ như Cửu long, Côn lôn cả Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp(2). Và với Ai cập, họ cũng dịch nhiều ký tự, giải nhiều loại mã hoá như bức chân dung vua Ai cập bên. Chúng tôi chưa có ý định bàn sâu bức Họa này mà chỉ mách trước với bạn đọc 2 chữ tiếng Phạn trên đường viền áo vị vua. Chữ dưới cùngvương gồm chữ ĐộThổ đội trên đầu chữ nhất. Chữ nhất là 1 gạch ngang được cách điệu thành 1 cái lông chim có cái đầu bằng(3). Tiếng Phạn và chữ Hán vương là hầu, thầnthứ. Tiếp lên trên vương là chữhựu. Hựu đọc “lại” nghĩa đi rồi lại như “ nói đi nói lại”, “bàn đi bàn lại”(4)…

Chú thích:

(1)Bạn đọc nhìn lại vế sau chữphạn gồm chữhựu dưới chữhán. Tiếng Phạn không có chữ phạn. Phạn này người Hán Trung dựng lại từ âm phạn Tiếng Phạn.

 

(2)Tuy dễ làm nhưng thơ Lục bát cũng có vần lối(kiểu). Ví dụ 1 câu lục:“ Lên dần dây vũ dây văn”. Như đã nói Nhạc Ấn độ có 5 âm: Cung, (ĐộThổ)Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Âm vũ thuộc Thuỷ, Thuỷ sinh thành tại Bắc. Biết vế chính Bắc sẽ suy ra vế hoá Nam. Âm chủy thuộc Hoả, Hoả sinh thành tại Nam. Dây dây văn. Lẽ ra phải nói dây dây chuỷ. Văn chương người xưa cho biết rõ vế thứ nhất. Vế thứ hai người đọc suy luận. Tượng nhân vật quẻ Ly Hậu thiên bát quái Mai hoa dịch Thiệu Khang Tiết nói: “ Người phương Nam kiến lợi văn chương tư tâm sách vở”. Không có 1 Nhạc khí nào có dây văn cả. Lên dần dây vũ dây văn là so đọ Bắc Nam, Thuỷ Hoả tức cao thấp cho dây đàn.

(3)Ai cập phương Tây bắc(chính) Trung hoa vị Đông nam(hóa). Chim bằng(cá côn) trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử diễn lại “cái lông chim” này.

 

(4)Do hiện vật nứt, giữa 2 chữ vương và hựu chúng tôi không xác định được ký hay tự.

Đổng thiên vương trang 34

Trước khi vào 2 chữ vương và hựu trên đường viền áo(1) chân dung vua Ai cậpII(2), bạn đọc chú ý con số II. II là số lớn La mã(số Ấn độ là số nhỏ). Bạn đọc nhìn tiếp vào trán vị vua. Hình, nửa bên phải là bộ râu Pitago. Chúng tôi xác định hiện vật chế tác sau khi có 2 quốc gia(3) Hy lạp vàLa mã.
Vương là hầu, thần thứ. Chữ Nôm ta nếu đọc vua là con người bằng da bằng thịt. Nhưng đọc vương chưa chắc. Do vương nhiều nghĩa trong đó có 1 nghĩa tước(chức) vương. Như thiên vương trong Đổng Thiên Vương(Thánh Gióng) không thể gọi vua Trời. Bởi TrờiĐế ngôi chí tôn chả lẽ bằng vua. Rồi vương trong vương quốc Ai cập, vương quốc Hy lạp không thể dịch “vua nước” hoặc “nước vua”…Cái gọi vua Ai cập là tước vương, thần thứ. Bạn đọc xem ảnh thần mặt trời Ai cập còn có tên thần Ra. Ra, Re là nốt thứ II trong 7 nốt nhạc Dorian Hy lạp Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si. Bạn đọc xem thêm 2 chữAi cập. Cập thuộc bộ hựu nghĩa kịp đến. Từ sau đến như hết anh lại đến em. Ai cập quốc gia anh hay em? Nếu em là thứ mấy? Ai cập Ai đọc Thương. Âm thứ 2 trong 5 âm Cung, (ĐộThổ)Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Cái gọi vua Ai cập là tước vương, mặt trời thứ II(4).
Ông Guillaume cho rằng hình nhân vua Ai cập II không phải đàn ông cũng chẳng phải đàn bà. Đàn ông lại mặc váy? Đàn bà sao không có ngực(5)? Bạn đọc theo dõi chúng tôi dịch chữ Pharaon II.

Chú thích:

(1)Đường viền áođọc đam. Đam trong danh gọi Lão Đam tức Lão Tử, Lý Nhĩ là chữ đam này. Lão Tử người Ai cập?

(2)Pharaon II người Pháp dịch là Vua Ai cập II, do tiếng Pháp có 1 chữ Pha’ra’on cũng gồm 3 âm tiết.

(3)Từ 4 chữ Hy, Mã, Lạp, Sơn. Sơn là núi. Hy là sắc mặt trời. Lạp là 1 thứ kim loại pha giữa chì và thiếc dùng hàn đồ. Mã là cán cân Thiên bình. Hy Mã Lạp Sơn là ngọn núi xứ mặt trời(Hy) Hin hạn Ấn độ đứng giữa như cán cân(mã) thiên bình. Ngọn núi đó là chỗ tiếp giáp(hàn nối) 2 cực Đông Tây, (lạp) 2 đầu là 2 đĩa cân Hy lạp và Malaysia(?)

(4)Zeus là thần mặt trời thứ III tượng cho vùng đất Hy lạp. Bạn đọc có thể thấy thêm con số III sinh hành Mộc trong tên Con ngựa(gỗ) thành Troy(Pháp trois, Anh tri).

(5)Fridrich Günter, einponisch Maler, Berlin August/1970.

Đổng Thiên Vương trang 35

Trước hết chúng tôi xác định phương hướng. “Đấng Thánh nhân quay mặt về phương Nam mà trị vì thiên hạ”(1). Vị vua Ai cập nhìn về phương Nam vì bên trái Đông có cái đầu của duck, con vịt(2). Đông đối Tây, bên phải Tây ông ta ôm 1 cái đu(móc). Hẳn bạn đọc còn nhớ cây đu của Hán cao tổ Trung hoa móc lên Du Hin hạn Ấn độ. Du của vị vua này cũng vậy, hướng móc lên cái đầu. Trên đầu vị vua, giữa trán ông ta là hình vẽtượng cho 2 nửa âm dương 1 thái cực. Nửa trái Đông bỏ ngỏ tượng cho Ai cập(?) Nửa phải Tây là bộ râu Pitago. Bạn đọc xem tiếp cáimiện mũ đội đầu Pharaon, trên đó là những họa tiết tâm điểm(3). Đội đầu hình vật người đàn bà, tâm điểm, lại có cái đu móc lên. Cái gọi là vua Ai cập II tôn thờ tư tưởng bản thể vũ trụ khởi phát từ duy nhất Ấn độ của triết giatagore.
Ông Guillaume nghi ngờ cái áo của Pharaon là đúng. Ông nói Ấn độ không có kiểu áo này. Chỉ người Trung hoa, Ai cập và người 1 đôi vùng đất tiếp theo mới có. Như cái váy trên người vua Ai cập là áo(4). Tác giả bức điêu khắc Pharaon II lấy ý từ chữáo, nghĩa là 4 phương Đông Tây Nam Bắc đất có thể dùng(5).

Chú thích:

(1)Câu này của Lão Đam tức Lão Tử, Lý Nhĩ.

(2)Bạn đọc có thể thấy cái đầu con vịt ngay dưới góc trái phương Đông nam bức họa triết học Tỳ thấp nô. Dưới đối trên, trên là con ngỗng Kim Hindu và mặt trăng, sông Hằng.

(3)Bạn đọc có thể thấy họa tiếttâm điểm ở bức họa Bàlamôn. Một trong 5 bà dùng ngón tay trỏ vẽ vào giữa khoảng không bên phải Tây(bên trái người xem ảnh) 1 đường tròn rồi dừng lại ở giữa.

(4)Ở bộ quynhđất xa ngoài cõi nước. “Đất xa” lân cận Ấn độ, “cõi nước” Ấn độ(?)

(5)Áo nghĩa thưlà sách bàn những vùng đất lân cận Ấn độ. Bạn đọc có thể thấy nghĩa lý đó ở cái áo lông ngỗng của Mỵ Châu chuyện An Dương Vương và tình tiết cuối cùng chuyện Đổng Thiên Vương Lĩnh Nam chích quái: “Cậu bé ruổi ngựa đến cây đa núi Vệ Linh cởi áo để lại lên mây đi mất”.


Đổng Thiên Vương trang 36

Ông Grevin không đồng ý kết luận giới tính Pharaon của Guillau. Ông cho rằng hình nhân kia là 1 bé trai chưa có thói quen đi giày như người lớn. Rồi Grevin chứng minh. Gần góc dưới phương Đông nam Pharaon lờ mờ 1 đôi giày cao cổ đang chờ tuổi vị thành niên của cậu. Tuy nhiên Grevin phân vân, đôi giày kia quá to so với cơ thể nhỏ con chưa chắc cậu bé là chủ nhân. Ai là chủ nhân đôi giày? Người Trung hoa? Không phải, tục của họ là dép cỏ(1). Người Ai cập? Cũng không! Người xứ sở aibụi, gió thổi cát bay này tục của họ là chân đất. Vậy người Ấn độ do phương vị quốc gia này bên trái Ai cập? Có lẽ! Chỉ có người Ấn độ mới có tục đi giày như “ngày xửa ngày xưa” trong chuyện cổ tích “Đôi giày ngàn dặm” xứ nọ. Do dự, mắt Grevin lơ đãng vào khoảng trống bức điêu khắc. Trên cái rãnh ngăn cách giữa Pharaon và đôi giày là hình hài 1 con nhộng bị cắt rời làm đôi. Nửa già bên trái, nửa non bên phải dính vào đùi Pharaon. Ông thốt lên: contằm.

Ông Alaiin đồng ý với sơ cứu của 2 người tiền nhiệm Guillaume và Grevin. Alaiin bàn thêm khoảng giới hạn giữa đôi bàn chân Pharaon và đôi giày siêu hình. Ông lấy tượng con tằm dẫn nhập: “Con tằm nhả tơ”. Lớp tơ lụa trên thân Pharaon và toàn bộ bức điêu khắc là sự phản ánh của tằm. Rồi Alaiin chỉ vào đôi bàn chân trần vua Ai Cập. Giữa ngón lớn và ngón nhỏ nổi lên 2 đường gân. Ông nói 2 đường gân là giới hạn giữa cáiche trùm (ngón cái) và thầnthứ(ngón nhỏ). Tiếp theo Alaiin so đọ, đôi bàn chân Pharaon nhỏ, thấp hơn đôi giày. Ông giả thiết: Nếu siêu hình là đặc thù của triết học Ấn độ thì Pharaon tượng cho người Ai cập, con tằm và đôi giày tượng cho người Indo.

Trên là khảo cứu Pharaon của 3 nhà khảo cổ Pháp trong nhiều nhóm người Pháp đến Ai cập vào những năm trước chiến tranh Thế giới lần thứ nhất(2).

Chú thích:

(1)Dép dưới chân, chân dưới đầu. Ai cập phương cao Tây bắc, Trung hoa vị thấp Đông nam, quẻThiên trạch Lý (dép) vị Đông Nam trong viên đồ 64 quẻ kép của người Trung hoa từ tính triết học này.

(2)Jean Arras, Ilya seulement les Arbres, Les cahiers du Musée de Louvre Paris November 1957.

Đổng Thiên Vương trang 37

Thưa bạn đọc! Chúng tôi vẫn đang bàn về “sông Hà” Kinh dịch. Lưỡng hàlà đôi Thiên hà, 2 sông (chu) trên Trời.

Khoảng thời gian người Pháp đến Ai cập thì người Anh, Đức…cũng có mặt tại nước này. Không riêng người Pháp, các nhà khoa học châu Âu muốn khám phá vùng đất gọi Trời trong cặp “Song Thiên” của nhân loại. Indo Ấn độ là tâm điểm khởi phát sự sống trên trái đất thì đã rõ(1). Nhưng không hiểu sao họ phải “né”, tránh conNgài mà “kén”, chọn Ai cập.

Đất người Hán Trung hoa là chi nhánh thứ nhất của ĐộThổ bật sang Đông. Còn Ai cập, có chắc độc lập sinh ra, không dính líu tới Ấn độ như cách luận của người Nhị nguyên? Hay cũng là 1 nửa con nhộng tằm; Như cái mầm đậu, đỗ, ĐộThổ phình lên Tây theo cách luận của người Nhất nguyên? Giả thiết và chứng minh. Các nhà khoa học phải khảo sát kỹ lưỡng các hiện vật như Tượng nhân sư, Kim tự tháp…Khai quật các hầm mộ vua Ai cập, xác định niên đại xác ướp Pharaon…Giải mã các truyền thuyết lịch sử như Thần Ra-Atum(2)…Tổ chức nhiều cuộc thám hiểm dài ngày con sông Nin huyền thoại…Cuối cùng tất cả họ cũng ngồi lại trước bức điêu khắc Pharaon II.

Chú thích:

(1)Từ trái sang phải người xem hình: Pharaon II, Kim tự tháp và tượng Nhân sư, Quán âm bồ tát(tức Nam mô a di đà Phật). Như họa tiếttrên miện mũ Pharaon, bạn đọc có thể thấy họa tiết tâm điểm trên đầu Quán âm bồ tát.

(2)Thần Ra-Atum. Thần Ra là Mặt trời thứ II. Atum. A là chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái hệ Latinh. Tum tiếng Anh là đùa 1 tý. Thần Ra-Atum: Đùa 1 tý thôi, Ai cập chỉ là vùng đất thứ II sau Ấn độ.

Đổng Thiên Vương trang 38

Vào luận bàn “sư nói sư phải vãi nói vãi hay”. Nhiều ý kiến trái nhau nhưng rốt cuộc vẫn quy tụ: Cái gọi vua Ai cập này chỉ 1 trong nhứng bức điêu khắc thuộc phái Siêu thực của Hội Họa. Người Pháp, ông Froissart với nhóm cộng sự của mình khai cuộc. Ông nói: Siêu thực. Siêu là không chịu đặt mình vào khuôn mẫu nào, vượt qua bầy đàn, hơn hẳn các bậc. Siêu là xa như viễn xứ, miền đất xa xôi. Mờ ảo khó nhìn thấy cũng là siêu như siêu hình, hình hài khó nắm bắt.

Nói rồi ông Froissart bỏ phần thực hình nhân vua Ai cập. Vượt qua khoảng ngăn cách ngay má ngoài chân trái Pharaon (góc dưới bên trái phương Đông Nam bức điêu khắc)(1) bàn tiếp phần siêu, mảng quyết định chủ đề tác phẩm. Trước khi vào chi tiết ông Froissart giới thiệu sơ lược các họa tiết.

Bên phải cái ghế bị cắt bỏ vai chế từ thân một loài cây không có người ngồi, dưới cùng nó là 1 đôi giày cao cổ. Tiếp lên là hàm 1 con rồng cái, miệng nhả ra cái đầu và cổ 1 con nhân xà. Lên nữa là đầu 1 con nhện không có thân và tiếp lên nữa, trên mặt ghế là già nửa 1 con nhộng tằm. Mặt trái phần trên ghế là những họa tiết được cách điệu từ những họa tiết đền Vàng Indo. Toàn bộ cái ghế như vương tơ 1 loài côn trùngnhện(2).

Chú thích:

(1)”Đấng Thánh nhân quay mặt về phương Nam trị vì thiên hạ”_Lão Tử. Vua Ai cập nhìn về phương Nam.

(2)Nhện là 1 trong những loài trùng có sớm nhất trên trái đất. Tục dùng cành cây (chi, mộc) rào chắn trong 3 ngày yểm không cho Trùng bắt mang đi ở phong tục mai táng của người phương Đông như Trung hoa, Việt nam, Triều tiên… từ trùng, con nhện này.

Đổng Thiên Vương trang 39

Nét chấm phá chân dung vua Ai cập của người xứ Bordeaux vừa dừng lại ở con nhện thì…Như trong sương mù, người Anh vào cuộc. Bà Housman cùng cộng sự vén bức màn bí mật bức điêu khắc Pharaon II (1). Bắt đầu từ cái đu Housman nói: Tay phải vua Ai cập ôm cái đu, tay trái ông ta nắm chặt cái đốc kiếm. Thanh kiếm không có lưỡi, nó ở đâu? Lưỡi kiếm vô hình nằm ngang trên cái ghế mảng siêu hình bức điêu khắc! Nói rồi bà hướng cử tọa vào chữhựu trên áo Pharaon mà rằng: Có 1 đường cong như 1 nửa cái chén kết hợp với chữ hựu tạo thành Ω(2). Họa tiết ômega được chia làm 2, nửa non chữ hựu ở dưới, nửa già 1 nửa cái chén ở trên. Toàn bộ là cái chén úp xuống(3). Bà Housman còn nói thêm: Họa tiếttượng cho IndoEuropean, 1 loại ngôn ngữ kết hợp giữa tiếng Ấn độ và tiếng Châu âu. Muốn khảo cứu các Pharaon Ai cập, ngoài ký – ký hiệu và tự – chữ viết thông dụng cần phải có loại ngôn ngữ này.

Chú thích:

(1)Bạn đọc có thể nhận diện con số II ở họa tiết giống 2 cái chén úp và 2 chữ Ω ômega ngay bên trái 1 Pharaon Ai cập(ảnh 2).

(2)Ω là chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp, bạn đọc có thể nhận diện nó ở trên đầu 2 nhân vật trong bức họa Asin và cha Sam(ảnh 3).

(3)Phúc uyển là cái chén úp. Ai cập vị Tây Bắc, Trung hoa vị Đông Nam. Quẻ cấn phúc uyển Tiên thiên bát quái Kinh dịch người Trung hoa xếp vị Tây Bắc từ cái chén úp này(ảnh 4).

Đổng Thiên Vương trang 40

Nhóm các nhà khảo cổ người Anh đến Ai cập lần này có bà Ingerid nguyên là nhà Văn học sử, chủ bút 1 tờ báo ở NewDelhi. Thời gian sống ở Indo, Ingerid luôn tìm hiểu Văn hóa nước này. Bà rất phân tâm về tục thờ cúng của người bản địa. Ingerid nói: Người Ấn độ thờ Vàng thì có thể vì Vàng là loài Kim vững bền nhất trong nhóm Ngũ kim Vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm. Thờ Hymen hình vật trinh nữ cũng có thể vì cô gái tơ non kia sẽ là người Mẹ để cho người Á, Hán, China “một lòng thờ Mẹ kính cha” và người Âu, Hy Lạp, Dorian(1) tôn trọng Dame đàn bà. Nhưng người Indo thờ các con số thì không thể bởi cũng vô tình như số La mã người ta đều tai nghe mắt thấy chúng.

Nói liền 1 mạch như những thiên Epic Anh hùng ca Hy lạp, đột nhiên bà Ingerid…dừng lại chỉ vào 1 hình vẽ chi chít những con số rồi tiếp tục: Đây là Đồ của người Trung hoa, họ đồ họa lại các con số sông Thượng giới(2). Đồ hình gồm 10 con số nhỏ. Những con số lẻ gọi là cơ, dương, số Trời. Gọi Trời do Trời thuộc dương. Những con số chẵn gọi là ngẫu, âm, số Đất. Gọi Đất do Đất thuộc âm. Nếu dùng phép Diễn số thì tổng các số Trời 1+3+5+7+9=25. Tổng các số đất 2+4+6+8+10=30. 30 là con số Đất mà người Ấn độ thờ phụng. Nói rồi bà Ingerid chỉ lên bức họa biểu tượng quốc gia Indo: Kia là con số 30, trên con số 30 là 1 nửa con mắt ngỗng Hằng nga. Con số 30, số 3 trước, sau nó là con số 0 được cách điệu thành 1 Masterkey(3) chìa khóa cái cả…Bà Ingerid ngừng lời rồi cũng rất đột nhiên bà cao giọng: Người Indo dùngâm (nhạc, văn) vàsắc (màu, sắc tướng) để diễn đạt những tư tưởng triết học. Cần phải có loại “chìa” này để mở nắp “Áo quan” cho các Pharaon Ai cập(4).

Chú thích:

(1)Có 1 thời kỳ lịch sử, quốc gia Hy lạp mang cái tên như vậy. Dorian: thuộc về Dô và Re.

(2)Đời Tống Trung hoa có Trần Đoàn nghiên cứu Lý số. Số là những con số đếm. Lýtử lý, quê cha đất tổ. Lý số là con số của quê cha đất tổ.

(3)Bạn đọc sẽ rất khó khăn để nhận diện Cái chìa khóaở 1 họa tiết dưới góc trái bức điêu khắc vua Ai cập(ảnh 4). Rất dễ dàng với những chìa khóa minor thứ ở tay phải Thần Re và tay 2 cô gái trên bức họa trong hầm mộ 1 Pharaon(hình 3).

(4)Nguyên văn: “Indian people use Music, poems and Songs to show their Philosophic indeologi”. Dubline Ingerid, talks outside page, HongKong June 1893.

Đổng Thiên Vương trang 41

Người Pháp bà Nothomb trở lại mảng siêu hình bức điêu khắc chân dung vua Ai cập. Mở đầu tham luận của mình Nothomb bộc bạch: Tôi là sinh vật học gia trong nhóm nghiên cứu phương Đông của nước Pháp. Tới Đông dương có người hỏi tôi: Tại sao 3 nước Đông dương, người Pháp đặt cho cái tên IndoChinaFrancaise nghe chẳng Đông dương tí nào cả. Thay cho câu trả lời tôi hỏi lại người kia: Ngài biết câu chuyện đầu và đuôi của người An nam chứ? “Con tằm nó nhả ra tơ, người ta đưa tơ bán cho người Trung quốc, người Trung quốc dệt thành the rồi bán sang ta…” Tằm(1) (hữu hình) nhìn trông thấy. (vô hình) ngôi thứ 3 số ít chỉ tằm. Người ta(vô hình) cũng ngôi thứ 3 số ít nhưng ám chỉ ai? Ấn độ chăng? Do phải “né” tránh cái “kén” trong đó có con Ngài(2)? Đúng vậy thì Nhộng tằm tượng cho Indo, quốc gia củatâm điểm khởi phát sự sống trên trái đất. Nói cái gì cũng phải có đầu đuôi, sau trước. Ba nước Đông dương Việt nam, Lào, Campuchia người Pháp gọi IndoChinaFrancaise? Indo Hin’du (hạn) là con tằm thuộc đầu. China (hán) 1chi nhánh, 1 ấptrang trại của Ấn độ là tơ thuộc thân. Hạn (hin) và Hán tuy 2 mà 1, 1 cái đầu, Hạn Hán. Khu vực Đông Nam Á chỉ có Việt nam, Lào, Campuchia là đất thuộc Pháp nên IndoChinaFrancaise. Gọi vậy đủ vì đã có đầu tằm, thân tơ, đuôi thenhiễu(3).

Chú thích:

(1)Tàmcon tằm lúc bé tới lúc lớn lên tất 2,3 lần lột xác. Mỗi lần lột xác nằm yên trong 3 ngày không ăn, không cựa quậy gọi là tằm miên, tằm ngu. Ngu 3,4 lượt mới lên né kéo kén. Kéo kén xong hóa  con nhộng. Ít lâu sau hóa thành con bướm đục thủng kén bay ra gọi là con Ngài.
(2)Ngàilà loài bướm đen lẫn những chấm trắng. Nhìn thẳng thì mặt nó hao hao giống mặt Người. Đặc biệt râu Ngài đẹp như râu Chính nhân quân tử. Tục xưng hô tôn quí ngôi thứ 2 Ngài của người châu Âu từ … con Ngài này.
(3)Bạn đọc có thể nhận diện 2 con Ngài(hình nhân có râu) trong hầm mộ 1 Pharaon(ảnh 1). Và 1 con Ngài tư thế nằm, bên cạnh là 1 hình nhân có cái đầu chó mõm dài tư thế đứng ở 1 bức họa gọi là ướp xác(?) vua Ai cập(ảnh 2). Thêm nữa bạn đọc có thể nhận ra 1 con Ngài trong cái chảo bếp của Hội Họa Hy lạp. Với cái bụng no tròn như bụng Phật di lạc, Ngài ngồi trên 1 chiếc thuyền được cách điệu thành 1 con cá đực lớn loại 1 sừng(ảnh 3).

Đổng Thiên Vương trang 42

Hết tự bạch, nhà sinh vật chuyên “vạch lá tìm sâu” hướng cử tọa lên họa tiết “con tằm, đôi nửa”(1) bức điêu khắc Pharaon II. Đôi nửa! Bà Nothomb đang giải thích tại sao gọi đôilưỡng mà không là nhị2 thì có tiếng xì xào… phải nhường lời cho 1 cử tọa người Áo:

– Thưa bà Nothomb! Được biết những bức họa Pharaon có cách đây khoảng 3000 năm. Người Ai cập coi Pharaon II này là 1 trong những Vua vĩ đại nhất của họ. Tôi nghĩ phàm con Người thực thể mà cứ “bới lông tìm vết” như thế này liệu đúng với chức năng khảo cổ không?

– Thưa ông Heinrich! Giốngtức người Phoenix ngày xưa là tổ tiên của người Ấn độ ngày nay. Họ có cả  kho Triết học khổng lồ gồm những Âm Dương, Ngũ hành, Can chi… kể cả Toán học. Tiếng Phoenix phạnlà ngậm. Do phải ngậm nên những tư tưởng Triết học như đã nói, người bản địa dùng Văn Nhạc, Hội Họa để diễn đạt chúng. Nghệ thuật là suy diễn. Chúng ta đã thống nhất cái gọi là vua Ai cập II kia chỉ là 1 bức điêu khắc nên với nó phải dùng phép DeduktiveMethode đặc thù. Đương nhiên suy diễn phải có chứng luận. Chứng ở đây là những ký tự, dấu vết… để từ đó tổng hợp, luận chủ đề tác phẩm. Tôi nghĩ chúng ta đã đi đúng đường của công việc khảo cổ thưa ông(2) Heinrich.

Chú thích:

(1)Bạn đọc có thể thấy dâu, tằm ở 3 bức Họa Ấn độ. Bức 1: Cái nong tằm(không có cạp nong) như cái ghe treo lơ lửng giữa Trời, dưới nó là các nhân vật. Trong cái nong là những kénnhộng. Chúng được cách điệu thành những đồi dâu, có nhiều dòng nước chảy xuống. Bức 2: 3 nhân vật đang uống nước từ 3 cái bình được cách điệu thành 3 con nhộng. Bức 3: Ngay dưới chân bên phải 1 nam 1 nữ là  đám tằm bùng nhùng, trong đó có 3 cái kén hình hài 3 con nhộng.
(2)Tỵlà cái mũi – Ông thủy tổ… Tục “vuốt mặt nể mũi” của người phương Đông và tục xưng hô ngôi thứ 2 tôn quý Ông từ cái mũi Tỵ này.

Đổng Thiên Vương trang 43

Đôi nửa con tằm. Nửa trước hướng đầu về cái kỷ, ghế dựa, nửa sau tẽ ra như cái… ngưcon cá. Cái đuôi tằm. Phần trên dính vào đùi Pharaon, phần dưới với những sợi tơ như cái vây cá buông thõng. Cử tọa theo hướng cái vây cá nhìn xuống. Dưới đế đôi giày cao cổ siêu hình là 2 cáCái(1), 1 lớn 1 bé. Cái bé bên phải, bên trái nó là Cái lớn. Trong đám bùng nhùng “rối như tơ vò” , miệng Cái lớn ngậm chặt toàn thân con giaongan Wildgoose(2), 1 loài ngỗng mái chuyên sống ở núi rừng hoang dã. Cả 4 cái đầu: 1 tằm, 2 Cái cá, 1 ngan đều hướng về Đông Nam, bên trái bức điêu khắc. Phương đó có người Indo do Ai cập vị phải Ấn độ chăng?

Giả thiết rồi bà Nothomb chỉ vào đôi giày tiếp tục: So với kích cỡ đôi giày thì vị vua Ai cập không phải chủ nhân nó. Hình nhân (bà chỉ tiếp vào 1 bức tượng Pharaon) bên trái vua Ai cập kia là đàn bà. Như bộ ngực có 5 vạch ngang, phần bụng giữa là cái rốn cũng có 5 vạch. 5 ở ngực, 5 ở bụng vị chi là 10 thập toàn, con số thành của hànhThổ. Bà Nothomb chỉ tiếp xuống cái âm vật lồ lộ như dính vào vai trái Pharaon rồi kết luận: Chủ nhân đôi giày siêu hình này là 1 người to lớn: “Trời để lộ ra ngoài”khổng lộ(3). “Trời”, đó là người đàn bàẤn độ.

Chú thích:

(1)Tiếng Phạn và Hán tự nếu đọc ngư là con cá nhưng nếu đọc cá là cái, quả như nhất cái: 1 cái, nhất quả: 1 quả. Nhà Phật có chữ Chính quả tức Cái chính, Quả chính. Chính và phụ. Phụ là những vùng đấtáo, Intheneighbaurhood lân cận Ấn độ.
(2)Bạn đọc có thể nhận diện 2 trong 3 con ngan ở 1 bức họa Ai cập: Con lớn đi trước đang Phạn “ăn cơm” của Ấn độ. 2 con bé đi sau của Ai cập(ảnh 2).
(3)Chuyện Đổng Thiên Vương(Thánh Gióng) trong Lĩnh Nam chích quái có tình tiết: “Thánh Nương đi hái dâu đầu làng thấy 1 vết chân khổng lồ bèn đưa chân ướm thử. Bỗng nhiên thấy lòng rung động rồi có thai”. Dâu tượng cho Tây phương Ấn độ(Bể tượng cho Đông phương Nam hải) –Thành ngữ “bể dâu”, “dâu bể”. Vết chân khổng lồ đó của người đ
àn bàẤn độ.

Đổng Thiên Vương trang 44

Thưa bạn đọc! Chúng tôi lại vẫn đang bàn về “Sông Hà” của Kinh dịch. Bà Nothomb tiếp tục tham luận của mình:
Người Âu chúng ta trọng đàn bà, người Trung hoa cụ thể hơn là thờ Mẹ. Còn người Ấn độ thì chi tiết đến tậnty, họ thờ Hịm(1). Tại sao vậy? Phải chăng người ta chỉ nhìn hữu hình từ cái lỗ nọ chui ra. Mà không cần biết để có mình, ngoài Mẹ phải có Cha. Đó là những contrùng nòng nọc sau này trở thành Ta(2)?. To lớn thuộc Dương, nhỏ bé thuộc Âm. Giống đực thuộc Dương, giống cái thuộc Âm. Trời thuộc Dương, Đất thuộc Âm. Người Indo thờ Trời nhưng Trời là đàn bà. Đàn bà mà to lớn. Trời mà có âm vật. Nghe buồn cười! Có lẽ phải dùng Triết học của người bản địa mới sáng tỏ điều phi lý này.

Chú thích:
(1)Bạn đọc có thể nhận diện cái Âm hộ trong những bức họa Ấn độ. Bức 1: Cái ức 4 con ngựa cái và những cái quần lót của con gái. Bức 2: Lỗ tai 4 con ngựa cái và chính cái tai của nhân vật gái. Bức 3: Cái cổ 4 con ngựa cái là phần bụng của con gái với những cái quần như sắp tụt xuống dưới ấy. Bức 4: Giữa bụng, lưng, đùi 2 nhân vật (trừ ông già đang hiến dâng cô gái 1 cái kén tằm). Riêng nhân vật lưỡng tính giữa đồ tròn. Dưới háng “cô cậu” là cái âm vật, đặt ở trên nó là cái dương vật.
(2)Tục xưng Cha mình là Bọ, Bố (đọc trại) từ trùng, sâu bọ này.

Đổng Thiên Vương trang 45

Vedavệ đà. Vệ: khí như không khí(1), bảo vệ như thân vệ, giữ mình. Vệ còn là cái vẩy của bộ cung tên… Đà: giống ngựa cõng, ngựa thồ đồ đạc hàng hóa. Đà còn là(2) thắng đà lông ngỗng… Bà Nothomb đang định bàn về triết lý táo khí, khí khô Hin hạn Ấn độ “táo năng sinh thấp” thì… vẫn là ông Heinrich người Áo:

– Thưa bà Nothomb! Chúng ta đang bàn bức điêu khắc Pharaon Ai cập, tự nhiên lại nhảy sang Hội họa Ấn độ và bây giờ là Triết học của người bản địa. Như vậy có lan man dẫn tới lạc đề không?

– Thưa ông Heinrich… Bà Nothomb chỉ vào hình nhân nằm trong cái bồn tắm: Đây là 1 bức điêu khắc có tựa đề Pharaon Menes.

Chú thích:
(1)2 mặt âm dương Khí Huyết quyết định bệnh tật và tuổi thọ con Người. Khí vô hình thuộc phần vệ, Huyết hữu hình thuộc phần vinh, Đông y gọi là Thủy Hỏa vinh vệ. Hỏa tức khí, khí tức Hỏa, bạn đọc chú ý những họa tiết màu lửa chủ đạo, hướng đi của xe, ngựa, mũi tên (cung tên)… Thủy tức Huyết, Huyết tức Thủy, bạn đọc chú ý thêm những họa tiết màu máu chủ đạo, màu mực, dòng nước, ao hồ… trong các bức họa Ấn độ.
(2)Thân con ngỗng thì phần xương thịt ở bên trong, da lông ở bên ngoài. Hằng nga là con ngỗng Hindu. Bạn đọc có thể thấy nghĩa lý của vùng đất cáchda lông con vật bỏ đi ở tình tiết cái áo lông chim(ngỗng cũng là 1 loài chim) của Mỵ Châu trong chuyện Thục An Dương Vương Lĩnh Nam chích quái.

Đổng Thiên Vương trang 46

Mene’s(1) là thứ(nhỏ). Vậy trưởng lớn là ai? Tất cả khảo cứu Pharaon của chúng tôi từ 1800 lại nay đang tới kết luận. Quốc gia Ai cập không có 1 vị vua nào là Majeur: trưởng(lớn); số I. Tất cả toàn là Mineur thứ nhỏ hơn, số II, Ra(re). Có khi thêm Me(mi) nốt thứ III trong 7 nốt nhạc Do, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si xứ Dorian(Hy lạp).

Nói rồi bà Nothomb chỉ lên bức ảnh số 13(2) tiếp tục: Đây là 1 bức điêu khắc có tựa đề Pharaon Ramesses II. Có tiếng bàn ghế xê dịch phía cử tọa người Áo. Nothomb đột ngột trở lại bức số 2 quen thuộc: Thưa các Ông, các Ngài! Đây là bức họa “Schmarotzer,Kleiderständer”! Tiếng bàn ghế xê dịch càng mạnh, ông chủ tọa hội thảo người Araber tuyên bố giải lao(3).

Chú thích:
(1)Có thời kỳ lịch sử, người Ai cập mang cái tên như vậy, Menes.
(2)Đây là số thứ tự cho các bức ảnh, không hàm thuật số gì.
(3)GeorgeVargas, UnsouciàIndo, Lyon, Janvier 1891.

Đổng Thiên Vương trang 47

 

Nghỉ giữa giờ các cuộc Hội thảo văn nghệ thường là những phiếm luận. Quả vậy, cử tọa đi lại cởi mở với nhau. Có người nói: Người Pháp và người Anh cậy có ngôn ngữ phổ thông mà lạm dụng. Nhưng cũng có người cho rằng: Chữ viết phản ánh đời sống nên dùng chúng để nghiên cứu con người là đương nhiên. Lại có ý: Người Pháp dùng từ sai. Ví như điêu khắc thì nói bức Họa còn bức Họa thì nói điêu khắc. Cũng có người phản bác: Vẽ là dùng bút mực diễn lên Papyrus. Nhưng nếuhọa thì đã có vẽ, ngoài ra có vạch, khắc… Do vậy người ta thêm chữ hội(tụ) cho Họa. Gọi điêu khắc đã có Họa, gọi bức Họa đã có điêu khắc. Hội Họa là tụ các môn Họa.

Ý kiến qua lại nhiều nhưng cởi mở nhất là người Áo và người nước chủ nhà. Ông Heinrich:

-Tôi không hiểu tại sao biết tôi là người Áo mà bà Nothomb vẫn dùng thành ngữ Trung hoa “Giá áo túi cơm” trong khi tôi đang cởi áo chờ giải lao?

-Bà Nothomb người Pháp gốc Đức đấy!… Người Ai cập thì khôi hài hơn:

-Tiếng Đức thật thô bỉ! Pharaon RaMesses II là Vua vĩ đại nhất. Không riêng gì “của” chúng tôi, “cụ” còn là “của” loài Người, ai ai cũng phải kiêng dè. Ấy vậy giờ là “giá áo, túi cơm” thật chẳng ra thể thống gì nữa. Ôi, Vua bị lăng nhục như thần dân bị lăng nhục! Và thế là phiếm luận của người nước đăng cai bắt đầu:

– Ta thích cụ Nhân sư,

Cạo trọc đầu đi tu.

Nên vào trong Gi’za,(1)

Tránh gió thổi sương sa.

– Tôi muốn có chìa khóa,(2)

Trên mồm, tay con chó.

Để vào được hầm mộ,

Mở thêm đôi cánh cửa.(2)

– Tôi muốn có cái tai,(3)

Của ả Nhất vòi Voi.

Để về với Trần Ai,

Nghe nhạc vua tai Voi(8)(8)(8).

– Tôi muốn thành con Khỉ,(4)

Nhưng phải là vượn nhé.

Sắc mặt gan cóc tía,

Mà sâu tình thẳm ý.

– Ta muốn quỷ S’phin’x,(5)(5)

Nhao xuống vực sông Ni’n.

Giũ hết những tinh linh,

Dân yên hưởng thái bình…

Không khí trào lộng của 10 phút giải lao Hội thảo sẽ gia tăng nếu như không có 2 tiếng boong boong phát ra từ cái chuông đồng dưới bụng thần Ra mặt trời. Đi kèm là hiệu lệnh bằng tiếng Áo: Thôi đi các Ngài! Hậu nghệ(7)đã hóa làm con cóc, Molière không phục sinh. Còn AzizNesin, mẹ ông ta chưa ở cữ!

Chú thích:
(5)Quái vật Sphinx trong kịch vua Edip của Hy lạp.
(7)Tích xưa Ai cập: Hậu Nghệ đánh cắp bảo bối trường sinh của Phật hóa làm con cóc chạy trốn vào Mặt trăng.

Đổng Thiên Vương trang 48

 

Lại 2 tiếng boong boong, không phải từ thần Ra mà từ mông bên phải thần Hiểm(1). Ông chủ tọa Poebens người Ả rập gốc Greece tiếp tục duy trì hội thảo: Công bằng mà nói thơ cử tọa chủ nhà tuy còn ở 2 nước “nhảy ra” và “nhảy đi” của Hậu Nghệ nhưng ít nhiều cũng phản ánh được tâm tư người Ai cập. Rằng: họ đã từng có những vị vua bằng da bằng thịt hẳn hoi trong suốt những dặm trường bụi đỏ. Rằng: Những hình nhân là tranh vẽ, tượng đá tượng đồng. Rồi xác ướp kể cả các vị vua Ai cập tư thế nằm trong “áo quan” “hầm mộ”… Tất cả chỉ là phép diễn của Hội Họa cho tư tưởng Triết học. Ví như: “Lịch sử 1 vùng đất cùng 1 chủng Người” nào đó chẳng hạn… Dừng 1 lát ông Poebens hạ giọng: Hội thảo Pharaon xứ Trần Ai(2) đang đi tới cái cần tìm. Nào – Ông nhẩm đếm cử tọa hiện diện – Vào cuộc là 20 bây giờ chúng ra còn 18… Lại dừng khoảng 1 đến 2 nhịp thở… đột ngột ông Poebens cao giọng trịnh trọng: Thưa các ông, các bà! Hai cử tọa: Nhà văn trào phúng Touxten Ai cập và nhà sinh vật người Pháp Nothomb đang trên đường về với người Thiên cổ(3).
Vẫn lại boong… oong, nhưng lần này nhất loạt ở dưới bụng, bên mông và trên 2 cái váy của cả 2 thần Ra, Hiểm. 3 tiếng chuông đồng thanh phát ra nghe như 6. Ông chủ tọa cúi đầu đứng nghiêm. Cử tọa cũng đứng nghiêm cúi đầu theo ông. “Lời nguyền(4) Pharaon Hoàng đế” rồi _ có tiếng thì thầm.

 

Chú thích:
(1)Hiểmchó mõm dài, như hiểm duẫn: 1 giống rợ phía Bắc.
(2)Ai cập có cái tên Văn chương như vậy, Trần Ai. Trầncũ, (><mới) Aiđọc Thương, âm thứ 2 trong 5 âm: Cung (DoThổ), Thương, Giốc, Chủy Vũ. Trần Ai là 1 cái gì đó cũ vị thứ 2.
(3)Thiên cổ. ThiênTrời, thiênngàn, 10 trăm… Cổxưa. Người Thiên cổ là người cổ nhà Trời, người cổ nghìn thu.
(4)
Nguyềnnguyện: ước như ước muốn. Hâm mộ, do hâm mộ mà cầu xin tâm nguyện được như thế.

Đổng Thiên Vương trang 49

Chiến tranh Thế giới gần kề nhưng “vấn đề Nước Lỗ”(1) còn nổi cộm. Người ta muốn làm rõ Ai cập, vùng đất gọi là Trời, Trời sauHậu Thiên. Tuy sinh sau nhưng vị thế độc lập, không dây mơ rễ má gì với quốc gia Trời trướcTiên Thiên Ấn độ. Các nhà khoa học làm việc hối hả và kết quả dường như dành cho phái Nhị Nguyên Luận.

Lại nói Hội thảo Pharaon Ai cập. Mặc niệm lễ tang thường chỉ 1 phút. Nhưng đã 2-3 phút trôi qua mà ông chủ tọa vẫn đứng. Cái nóng xứ cát bụi, tháng 6 thử, “Hạ chí đến chó cùng đường”(2) với người Âu quả khó chịu. Cử tọa sốt ruột. Có tiếng hỏi nhỏ: Đến giờ chưa Ngài? Poebens lắc đầu ra hiệu hãy làm theo ông đứng yên ngậm miệng. Lại 1-4 phút vẫn không có dấu hiệu kết thúc sự im lặng. Cử tọa thật sự sốt ruột:

-Lâu thế hở?

-1 phút nữa!

-Ngài biết trước sao?

-Chủ tọa người gốc πtagore Greece đấy!

-Tôi không hiểu?

πtagore(3) có 1 phái Triết học gọi là Phil’Materialistisch Duy vật!

-Tôi cũng không hiểu?

-Tức chỉ duy nhất 5 vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ của người Phil = Phạn tạo nên Thế giới!

-Ngũ hành của người Phạn = Phil?

Chú thích:

(1)Lỗ Đặc La là sách triết Ấn độ bàn về Nước Lỗ(Ai cập). LaSự ủy khúc khó lý giải “cái lỗ”nước mặn, câm, đứng riêng 1 mình như con trâu đực(đặc). Bạn đọc không nhầm với Nước Lỗ, NướcTrâu(bộ ấp) phương Đông Nam Trung hoa thời Chiến quốc.
(2)Thành ngữ Trung hoa thời Đông chu liệt quốc.
(3)Bà Nothomb cho rằng π’ta’go’r’e là tên Văn chương của Hy lạp. Âm tiết Pita tượng cho Âm nhạc. Hình tiết π tượng cho Hội họa. R tượng cho 3 môn học đọc, viết và số học. E tượng cho vùng đất thứ 3(Hy lạp). Go là đi, ra đi. Các môn Triết học(Âm nhạc, Hội họa), Ngôn ngữ, Số học ra đi từ Quốc gia πtagore này.

Đổng Thiên Vương trang 50

-Đúng! Người bản địa diễn 10 con số sinh thành Ngũ hành khi cần phải “né” tránh Cái, Số “thiêng”.

-Thiêng! Thế nào là diễn?

-Chuyện nhỏ nhưng dài lắm! Ngài chỉ cần biết trước con số 3 sinh Mộc.

Nói rồi người kia chỉ vào họa tiết Cái âm vật non tơ trên gò má trái(bên phải nó là cái mũitỵ Ông Thủy tổ sứt sẹo nham nhở) tượng Nhân sư S’phin’x, ảnh 1.

-Ngài cho thêm!

Người kia chỉ tiếp vào họa tiết Cái âm vật non tơ trên trán phải(bên phải nó, Cái to hơn là con rùa cách điệu) 1 Pharaon, ảnh 2.

-Cho thêm nữa!

Người kia chỉ tiếp vào họa tiết Cái dương vật già nua(cách điệu từ đầu con rắn, có con con mắt long lanh như 1 giọt lệ dưới góc phải bồn tắm Pharaon). Trên nó là con mắt trái. Nét trên là chữ R(viết tắt từ chữ Ra), hình bán nguyệt là tròng mắt. 2 nét dưới: Nét thẳng đứng sẽ là giọt lệ, nét nghiêng là cái râu con Ngài vểnh sang bên trái(1). Cả 3: Đầu dương vật, đuôi con mắt và râu con Ngài đều hướng sang trái, bên ấy là Ấn độ chăng? ảnh 3.

-Còn nữa không?

Người kia lại chỉ tiếp 5 Cái dương vật dựng đứng đen sì(bên trái có 5 cái tạ đối trọng) nói: Tính từ phải sang trái, Cái dương vật thứ 2 nhả ra đám tơ tằm hình hài như con chó trắng mõm dài vào bàn tay cô gái là Cái âm vật cách điệu, ảnh 4.

-Diễn hay quá, tiếp tục đi!

-Muốn gì lắm thế! Phải trái, non già, dưới trên Âm Dương đủ cả. Kìa Toutou(2), boong!

Lại chuông nhưng 3 tiếng của duy nhất của thần Hiểm. Cử tọa ngước mắt thấy ông Poebens vẫn yên vị. Họ tiếp tục cúi đầu đứng nghiêm và …’Phin’ = Phạn: ngậm theo ông chủ tọa.

Chú thích:
(1)Tín ngưỡng Aicập: Thuộc về bên trái có con Ngài, bên ấy là Ấn độ chăng? Hay “giọt nước mắt băng giá thuộc về quê Cha đất Tổ”. Bạn đọc xem họa tiết giọt lệ, nó là nét chính chữbăng giá cách điệu.
(2)Tiếng Pháp Toutou là con chó.

Đổng Thiên Vương trang 51

-Xin hỏi, vào mặc niệm Ngài biết trước sẽ là 6 phút do đâu vậy?
-Diễn số Ngũ hành. “3 tiếng chuông đồng thanh nghe như 6”, con số 6 được diễn từ con số 3 đúp: 3+3=6.
-Là số 6 thành Thủy mà Hà đồ người Trung hoa xếp phương Tây bắc?
-Không, đó là con số 6 thể dụng. Đây là con số 6 thành Thủy thể nguyên.
-Lại vừa rồi Ngài biết trước mặc niệm sẽ còn tiếp tục cũng diễn từ “3 tiếng chuông của duy nhất thần Hiểm”?
-Không, đây là con số 3 sinh.
-Là số 3 sinh Mộc ứng phương vị Quốc gia Hy lạp trong truyện Con ngựa(gỗ) thành 3(Troy) phải không?
-Không hẳn. Cũng 3 nhưng con số 3 này là giao cấu của số 1 sinh Thủy và số 2 sinh Hỏa. 5 hành Ngũ hành thì 2 hành Thủy, Hỏa quyết định sự sinh hóa muôn vật.
-Chỉ vậy thôi tại sao gọi là sinh, Ba sinh?
-Chu Hy nói: “Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo”. Đạo: Khai đạo, đi trước. Huấn đạo, dạy bảo… Đạo thuộc Dương(Đức thuộc Âm). Dương có công sinh(Âm thành). Nên nói 3 là nói tới sinh dù sự sống còn trong trứng nước.
-Ngài nói Chu Hy trong Kinh dịch, ông ta là người Trung hoa?
-Chulà vùng đất, Hylà sắc mặt trời, ánh sáng mặt trời. Chu Hy là vùng đất của sắc mặt trời, ánh sáng mặt trời ý chỉ Ấn độ(1).
-Ngài học triết lý Thủy Hỏa với những con số ở đâu thế?
-Ở Đạo giáo tức đạo Lão. Lão đam, Lý nhĩ, Bá dương tức Lão tử.
-Lão tử người nước nào mà có nhiều danh gọi?
-Ông ta là Lão sư người Lỗ Đặc La.
-Ngài căn cứ vào đâu mà phán vậy?
-Tôi căn cứ vào thân con sư tử ở các Pharaon Ai cập với cái đầu của nó trong bức họa số 10 thành Thổ Ấn độ. Đây, Ngài xem!
Chú thích: (1)Bạn đọc có thể thấy nghĩa lý chữ Hy, tâm điểm(Ânchính giữa, to lớn), con số Đất 30(biểu tượng Ấn độ) trang 80 Hồi 6 chuyện Đổng Thiên Vương(Thánh gióng) Lĩnh Nam chích quái: “…Vua nước ấy tên là Hy Băc Kịch(Hy: sắc mặt trời, ánh sáng mặt trời, kịchquá lắm) manh tâm(manhhành vi vô thức, tâmđiểm giữa) muốn thôn tính các nước xung quanh. Hắn bèn tự xưng Ân Vương động binh 30’ vạn quân sỹ tiến xuống xâm lăng phương Nam…” Đoạn văn trên ý là: Nguyên khí tâm điểm Ấn độ đã tràn xuống Nam Hỏa.

Đổng Thiên Vương trang 52

-Ngài là chuyên gia Văn minh China?

-Không! Tôi là chuyên gia Văn hóa Ai cập. Ngài cũng nghiên cứu Ai cập?

-Vâng, chúng ta đều chuyên vềNước Lỗ.

-Tôi chưa rõ tại sao con số 3 sinh Mộc phương vị Quốc gia Hy lạp xa vời, vậy mà người China lại xếp chính Đông ngay bên cạnh họ?

-Ngài nói đúng, người China lấy 4 phương chính tượng trưng để xếp các con số sinh thành Ngũ hành(Hình 1). Nếu nhìn trên mặt phẳng bản đồ ta ngỡ 2 quốc gia rất xa nhau. Nhưng quả đất tròn, “xa lại gần”. Điều này được chứng minh: Giờ 2 nước này chỉ cách nhau gần 4 tiếng(Hình 2). 2 con số 3 trên cùng phương vị.

-Tôi cũng vẫn chưa rõ tại sao con số 3 sinh Mộc lại hàm thêm Xuân như “Ba Xuân”, “duyên nợ Ba Sinh”?

-Ngài xem Hình 3. Trên hình là phương vị 4 chi trong đó có chi Sửu, 1 trong 12 địa chi thuyết Can Chi và phương vị con số 3 sinh Mộc của người China. Ngài xem tiếp hình 4. Con số 3 sinh Mộc lẽ ra phải xếp đúng chi Sửu phương Đông bắc. Vị trí là 2/3 cung Sửu. Chính xác là ngày 23 tháng Trạp(chạp đọc trại).

-Phải chăng là do 2 âmtrạp trạp: ve vẩy tai trâu mà người ta đặt tháng Trạp là tháng con Trâu nhằm ứng dụng Văn hóa?

-Ngài nói đúng nữa rồi. Nào, chúng ta cùng xem chú thích của người nước Lỗ về Tiết, Khí trong Học thuyết Vận khí thì sẽ rõ thêm về Ba Sinh(1)(2)(3).

Chú thích:

(1)Lập xuân là 1 trong 24 tiết của năm. Tiết này bắt đầu sau ngày cuối cùng tiết Đại hàn 23 tháng Trạp. Đại hàn là rét lớn. Âm cực Dương sinh, khí dương ôn(ấm) mùa Xuân đứng dậy gọi là Lập xuân.

(2)Quyết âm phong Mộc là 1 trong 6 khí lưu hành trong năm. Khí này cũng bắt đầu sau ngày cuối cùng tiết Đại hàn 23 tháng Trạp. Quyết âm là khí âm hàn(lạnh) mùa Đông, được phán quyết nhường chỗ cho khí dương ôn(ấm) mùa Xuân gió và cây.

(3)Phạnlà cơm ăn, cũng là Restaurand phạn điếm: táo bếp. Quân vương ngôi thấp hơn Trời, Đế. Táo quân là vua bếp. Tục Táo quân chầu Trời, làm mới sửa sang mồ mả Tổ tiên hoàn tất 1 năm; Tục xin lửa, gieo trồng sau ngày 23 tháng Trạp từ tính triết học 2 loại Tiết và Khí này.

Đổng Thiên Vương trang 53

-Xem chú thích mới hiểu thêm về người Lỗ… Nhưng thực tình tôi vẫn phân tâm về con số 6, người China xếp Tây Bắc mà Ngài lại cả quyết ở Tây Nam?
-Ngài đã biết thể Nguyên và thể Dụng(1). Hình 5, là con số 6 thể Nguyên. Nguyên là bắt đầu. Nói là bắt đầu vì Ngũ hành lúc này còn ở giai đoạn sinh Nhất dương: Thủy Bắc 1, Hỏa Nam 2, Mộc Đông 3, Kim Tây 4, Thổ Trung ương 5. Chưa có giai đoạn thành Nhất âm: Thủy Bắc 6, Hỏa Nam 7, Mộc Đông 8, Kim Tây 9, Thổ Trung ương 10 để  “Chi vị đạo”. Hình 6.
-Kinh Veda nói: Thuở rất xưa đã có Trời(cha), Đất(mẹ)… Những hạt mưa(nước) từ trên trời rơi xuống thấm vào lòng đất lâu ngày sinh ra muôn vật?
-Ngài hỏi không sai! Theo Tam NguyênTriplemajor của Orléans, Nhà Phật cho rằng 3 cái lớn nhất là Trời-Đất-Nước.
-Và người Nước Lỗ cụ thể vấn đề trên thành tư tưởng vũ trụ Khởi Thủy trong Nội KinhPatermel Liver của Rutebeuf: Trời Đất 2 ngôi định vị. Khí dương vận động sinh ra Nước đầu tiên ở phương Bắc(2)?
-Ngài đáp không sai! Khi hành Thủy giai đoạn thành 6, cũng Thúc Hốtchớp nhoáng 4 hành Kim, Mộc, Hỏa, Thổ còn lại hoàn tất giai đoạn thành. Ngũ hành đầy đủ 10 con số Sinh Thành: Thủy Bắc 1-6, Hỏa Nam 2-7, Mộc Đông 3-8, Kim Tây 4-9 và Thổ Trung ương 5-10, trái đất thực sự quay. Hình 7. Từ Tây Nam con số 6 thành Thủy thể Nguyên đi đúng ¼ vòng lên Tây Bắc làm con số 6 thành Thủy Lão Âm thể Dụng. Hình 8.
-Tại sao ¼ mà không phải ½, là Tây Bắc không phải Đông Bắc? À… Do trái đất quay trên 1 trục nghiêng +- 23 độ, 4 vòng hết 1 chu kì và cứ ¼ vòng thì đường cung vỏ trái đất rẽ lỗi để nhập vào đường cung vòng quay khác. Hình 9.
-Ồ, khả năng suy diễn của Ngài được đấy!

Chú thích:

(1)Nguyên Kapital vốn có. Nguyêncòn là mới, bắt đầu, to lớn, đầu số, đầu người… Chữ Nguyên gồm chữ ngột(như người què chân trái, cao chót vót, bằng đầu) ở dưới, chữ nhất ở trên. Dụng Brauchbar dùng. Dụngcông dùng và còn là cái chĩnhđựng đồ ẩm thực.

(2)Kinh Veda: “Táonăngsinhthấp, nghĩa là khí táo khô năng vận động sinh ẩm thấp(ướt).

Đổng Thiên Vương trang 54

-Đáp ý Ngài: Tháng 12 Sửu trạp trạp “ve vẩy tai trâu” cũng đi đúng ¼ vòng từ Đông Bắc xuống Đông Nam làm nước Lỗ, nước Trâu China! Hình 10.
-Đối ý Ngài: Cái lỗ mặn, câm đặc, đứng riêng 1 hình như con trâu đực cũng đi đúng ¼ vòng từ Tây Nam lên Tây Bắc làm nước Lỗ, Lỗ Đặc La! Hình 10.
-Tôi diễn tiếp: quẻ Kiền Trời sau Ai cập cũng từ Tây Nam lên Tây Bắc làm quẻ Kiền Trời Hậu thiên Bát quái! Hình 10.
-Tôi cũng diễn: LãoLiêu 1 giống rợ đuôi dài nửa chó nửa khỉ cùng thần Hiểm từ Tây Nam lên Tây Bắc minh họa cho quẻ Kiền Trời sau Ai cập(2a, 2b). Tượng chúng là chi Tuất(con chó) phương Tây Bắc, 1 trong 12 chi Thuyết Can Chi. Hình 11.
-Tóm lại, khi “Đạo trời quay từ trái sang phải”, các “đại biểu văn hóa” cùng phương vị Ai cập không còn “vốn có” ở Tây Nam. Tất cả đều đến làm “khách” Tây Bắc. Con số 6 Thành Thủy Lão Âm cùng tư tưởng: “Nước chảy chỗ trũng”(1) của Lão tử sẽ mãi mãi với những người nghiên cứu Lịch sử như tôi và Ngài(3).

Chú thích:

(1)BudéRabelais_Taoisme, I’eau va à la rivièer, Cairo Octobre 1890.

(2a)Quẻ Kiền trời sau Ai cập(góc trái dưới, ảnh 1). Trên tường bên phải, hình nhân đứng trước là conLão, (đọc tránh là Liêu) 1 giống rợ nửa khỉ nửa chó phương Tây Nam(Hình nhân đứng sau làhiểm). Sau gáy, trên vai Lão làsắc Mặt trời, ánh sáng Mặt trời. Trước miệng Liêu là mồm 1 chìa khóa thứ hướng mở sang bên phải. Trên nó là Ωomega, chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp cách điệu bằng phúc uyển, cái chén úp.

(2b)Quẻ Kiền Trời sau Ai cập(ảnh 2). Hình nhân nằm trên 3 vạch quẻKiền Trời. Vạch dưới cùng đặt trên 2 cái chân chó(Sau là chân và cái đuôi, Trước là chân trước và cái đầu). Bên phải vạch dưới là nửa cái đầu con Lão Liêu. Giữa trán hình nhân, vạch trên cùng là 2 con người: 1 áo trắng, 1 áo đen chung nhau cái đuôi rắn lòng vòng như 2 cái âm vật bé gái(bạn đọc xem giữa trán hình nhân, vạch trên cùng quẻ Kiền Trời ảnh 1). Và… chú ý thêm: Đôi bàn tay vị Trời sau này nắm chặt 1 dấu X-Stop như 2 con rắn cạp nong của cái nong tằm. Một nét dấu X-Stop là cái đu(móc) cùng lông mày và khóe mắt hướng về tai trái, cái miệngPhạn đã mở.

(3)Ảnh 3 là số 6 thành Thủy trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trước khi bàn qua bức họa chúng tôi xin có đôi điều về sắc màu.

Ấn độ có 5 Naturfarbe Nguyên sắc: Đỏ, đen, xanh, vàng, trắng. Mỗi sắc màu đều ứng với Ngũ hành. Đỏ thuộc Hỏa, đen thuộc Thủy, xanh thuộc Mộc, trắng thuộc Kim và vàng thuộc Thổ. Nguyên sắc là màu tự nhiên chưa bị pha tạp. Như đỏ: màu huyết Người, tiết lợn. Đen: màu áo chùng thâm các Thầy tu, băng tay của người Âu Tây, màu đêm tối (tối như đêm ba mươi). Xanh: màu lá cây. Vàng: màu khương hoàngnghệ vàng, màu cái kén tằm trong đó có con Nhộng. Trắng: màu áo, khăn tang của người Á Đông. Tục xưa, chỉ người Ấn độ mới được dùng Nguyên sắc. Còn các vùng đấtáo: Intheneighbaurhood lân cận phải dùng biến sắc Farbenmichen pha màu. Những biến sắc đó là: Đỏ: đỏ thẫm, hồng nhạt, huyết dụ… Đen: xanh đen mực Nho. Xanh: xanh rêu. Vàng: vàng đậm màu gỗ Vernis… Bức họa trên đủ cả Nguyên, biến sắc màu.
Bạn đọc nhìn sắc trời bức họa, đó là màu đỏHuyết dụ. Huyết dụ là biến sắc dựa trên màu đỏ Huyết người, tiết lợn pha thêm chút trắng vàng. Thủy tức Huyết, Huyết tức Thủy, dùng Huyết dẫn dụ cho Thủy là Huyết dụ (Hình nhân đứng trên xa giá là số 1 sinh Thủy, hình nhân to lớn giữa là số 6 thành Thủy).

Dùng Huyết Beispielesblute dẫn dụ, bạn đọc nhìn lại nền trời bức họa. Lẫn dưới màu Huyết dụ là những đám mây trắng(biến sắc) được cách điệu thành 1 thứ bầy nhầy như chứng sổ mũi con trẻ. Cả Huyết dụ và dịch dãi này chảy ra từ cửa mình con bê cái 2 tháng chửa, người phương Đông gọi là Văn têmây Tây (đám mây phương Tây có văn vẻ). Nhìn sang góc phải phương Tây nam, bạn đọc sẽ thấy trên đó là cờ đuôi nheo được “văn vẻ” thành con bê. Như 2 chân sau là 2 đuôi cờ, tiếp là cái bụng chửa, còn lại là phần thân cho tới nách 2 chân trước. Và tiếp ra xa, phương Bắc, Tây bắc, Đông bắc cũng những Kỳ gicờ  trăm tuổi, đuôi nheo(nheo mắt, bạn đọc có thể thấy ở hầu hết các Pharaon Ai cập và anh chàng số 2 sinh Hoả trong bức hoạ số 6 thành Thuỷ ảnh 3).
Tại sao cờ(kỳ) lại là bê(bò) cái chửa mà không phải 1 nửa con nghé(trâu)? Ông Heinrich người Áo nói rằng: Thuở khai Thiên lập Địa, khu vực Lưỡng Hà chỉ có 2 vùng đất khởi là Veland nướcVệ và Schlechtland nướcHèn(hèn kém tức liệt thời Đông chu Liệt quốc). Vệ(Ấn độ ngày nay) có trước, Hèn(Ai cập ngày nay) có sau, biên giới 2 vùng đất giao nhau. Như đã nói ở VEDA vệ đà, vệ khí có tính lan tỏa(bạn đọc nhìn hướng mũi tên cùng cái vẩy tên “vệ” trong 2 bức họa Ấn độ ảnh 1 và 2). Hèn bị Vệ lấn át phải co về Tây nam làm cái lỗ câm đứng 1 mình như con trâu đặc(đực), Nước Lỗ()Lỗ đặc(la).

Vẫn ông Heinrich: Lịch sử 1 vùng đất quy định mọi phong tục. Chủng người nào cũng có tục thờkính(cung kính). Người Ấn độ không thờ Người mà Vật, họ cung kính những gì có trước tiên và bền vững nhất như Trời Đất, Kim Vàng…

Hà đồ của người Trung hoa nói: Số sinh thành của hành Kim là 4.9(4 là số Sinh, 9 số Thành). Trong 10 con số của Ngũ hành thì 9 là Dương số và là ngôi cao nhất. Vàngloài bền vững nhất, số 1 trong nhóm Ngũ kim(Vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm). “TrờiĐất2 ngôi định vị”(định sẵn). Đất thấp Trời cao, Đất dưới Trời trên. Cao, trên thuộc Dương. Thấp, dưới thuộc Âm. Trời vô hình khó nắm bắt. Đất hữu hình có thể sờ nắn. Dương trường tồn (Âm đoản mệnh). Người Ấn độ Achtungsvoll cung kính Thiên Trời mà lấy Kim, Beispiel dẫn dụ. Họ thờ Vàng(ảnh 3).
Bạn đọc xem lại Trời. Chữ ThiênTrời gồm chữ đại đội đầu chữ nhất. Hán tự nhiều chữ hàm ý Trời như KiềnTrời, NhậtMặt trời… Thiên này là bầu Trời, khoảng trống thiên nhiên to lớn duy nhất.
Tiếp theo là Đất. Chữ ĐịaĐất, vế trước là chữThổ. Vế sau, dưới 2 nét chữTrạch, trên là chữMiên: Lợp trùm nhà ngoài vào nhà trong. Cũng nhiều chữ hàm ý Đất như KhônĐất, ThổĐất… Địa này là  Thổ trạch, Đất hữu hình chở đợ bao dung muôn vật. Câu “sống mái nhà, chết mồ mả” ý đó.
Thờ Thiên, người Inder kính cả Địa. Có học giả cho là xứ này không thờ Đất. Theo ông Heinrich, Trời Đất là 1 cặp Âm Dương tương thành. Chỉ Nhất Dương Trời không có “Sinh” và duy nhất Âm Đất không có Thành. Như khí táo(khô) Hin(hạn)(Hin’du) năng vận động sinh ra Nước. Có Nước mà không có sự đón nhận lâu ngày của Đất chẳng có Thành dù là côn trùng siêu nhỏ; Loài sau lớn hơn rồi hơn nữa… Và tác phẩm cuối cùng của Weltschöpfer Tạo hóa, đó là Con Người.

Đổng Thiên Vương trang 55

Lửa khói chiến tranh đã lờ mờ bên kia bờ sông Ni’n nhưng người Ai cập cứ “bình chân” (1) như không có chuyện gì xảy ra. Phút mặc niệm ngoài chương trình của Hội thảo vẫn tiếp tục. Mặc cái nắng kinh người xứ Bể cát, cử toạ ai nấy mặt đỏ bầm, đầu cúi gằm nom họ như Ma binh trước trận bàn cỗ.
– Thưa chủ toạ _ Có tiếng gọi rất to của 1 cử toạ.
– Suỵt _ ông chủ toạ giật mình.
– Bây giờ là mấy giờ _ Vẫn cử toạ kia.
– Suỵt!
– Thưa ngài chủ toạ Poebens! Nhiệt độ hôm nay bao nhiêu?
– Suỵt, auch!
– Cha Portulak này gai góc như Sam! (2)
Lặng im đến 9 giọt đồng hồ nước, tiếng “thì thầm to nhỏ” của 2 cử toạ nào đó trở lại.
– Có ma không hở ông?
– Có chứ! Nhưng ngài hỏi để làm gì?
– Để… Eo ôi, tôi sợ… Tôi sợ nó ám!
– Ma nào mà ám _ Người kia chỉ vào bộ xương người đàn bà Khổng lộ trong 1 bức hoạ Nhật bản _ Nó đây phải không? Ông chưa dứt lời thì người này đã chồm lên ôm chặt lấy eo lưng 1 cử toạ đứng cạnh, thái độ hốt hoảng:
– Eo ôi, Nó ám tôi và cả ông nữa đấy!
– Nó ám tôi? Bà ám tôi thì có. Eo với chả Lạc! (3) Ma, Mamá là người mẹ cớ sao lại ám các con?
Đổng thiên vương trang 55
Chú thích:
(1) Từ thành ngữ “bình chân như Vãi”. Bình chân là ngồi xếp bằng như các bà Vãi nhà Phật. Bạn đọc xem 2 bức họa Ấn độ. Ảnh 1: Nam mô di đà Phật tức Quán âm Bồ Tát Diệu thiện tức Phật bà, Phật Ngọc, Kim thần (vàng thần thứ). Ảnh 2 _ Yogi’n tức Yoga Dugià.
Tư thế con người: Nằm thuộc Âm, đứng thuộc Dương, ngồi thuộc Âm dương quân bình. Cả 2 nhân vật trong 2 bức họa đều ở tư thế Âm dương quân bình. Ngồi xếp bìnhbằng, thân bất động, tư tưởng tập trung cho 1 vấn đề nào đó gọi là bình chân, “bình chân như Vãi”.
(2) Bạn đọc xem Asi’n trong 2 bức họa Hy lạp. Ảnh 3: Tho
ạt nhìn thì hình nhân kia là trai nhưng gương mặt, đầu tóc, bộ phận sinh dục lại “nửa nọ nửa kia”. Nhân vật Asi’n trong “Con ngựa Thành Drei” hay “Gót chân Asi’n” không rõ giới tính. Ảnh 4: Cũng Asi’n nhưng “môi đỏ má hồng”, “thắt đáy lưng ong”… Nhân vật này là gái. Nàng đội cái mũ bằng con Sam Portulack với cái đuôi thõng xuống phương Đông(tục “tóc tết đuôi Sam” và cái đuôi vô hình đảo Bạch long vĩ của người phương Đông từ tính triết học này). Asi’n và cha Sam buộc chặt tay chân với nhau bằng dải lụa trắng. Cả 2 ngồi xe, chiếc “xe hoa” 3 bánh (số 3) cách điệu thành 3 bông hoa (số 3)… Asi’n, chúng tôi dịch: Asiatisch Châu Á, vùng đất thứ Á hậu; yếu, là cái “gót chân” của Vũ trụ.
(3) Lạcsông Lạc, vùng đất của Lạc. Như Lạc thú(yêu, vui thích), Lạc Nhạc(Âm nhạc), Lạc bác: màu sắc loang lổ của con Ngưu (Họa); Lạc thúcđậu khấu – hạt lạc…

Đổng Thiên Vương trang 56

Lại im lặng cũng 9 giọt đồng hồ nước. Người ta chỉ nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc và như ai đó đang lặc khặc ho, căn bệnh của người ngứa cái lỗ tai to.

Lại nói người đàn bà nào đó đang ôm chặt eo lưng 1 cử tọa đứng cạnh. Người này vùng vằng cố sức gỡ tay bà ta ra nhưng không được… Cực chẳng đã phải nhờ tới ngón chân cái, cù vào chốn Thâm Nghiêm cũng không xong. Ông bất lực thở dài. Tiếng thở dài ngao ngán không khí lễ tang hội thảo. Cử tọa lắc đầu và không ai bảo ai, tất cả đều hướng về ông Poebens như chờ 1 phó cáo. Đúng thế, 18 tiếng chuông đồng của thần Ra và thần Hiểm gióng giả vang lên cùng hiệu lệnh tiếng Đức: Hạ màn đi hỡi Nghệ nhân nửa mùa; Cao tổ Schächspire và Scharler đang chờ chúng ta bên kia núi! Bình, boong…

Đổng Thiên Vương trang 57

Hiệu lệnh chưa dứt …
-Này, người ta đang mặc niệm mà các ngài lại ôm eo nhau, lễ tang còn nghiêm túc?
-Do cái này – Câu đối cay như 1 nhát gừngsinh Khương(1).
-Các người đã liêu tịch rồi sao còn “ngổn ngang gò đống” ở đây?
-Tại cái nọ – Lời đáp đắng như 1 nhát Khươnghoàng Nghệ.
-Thế là thế nào? Vẫn câu hỏi của cử tọa người Đức, bà Doris.
-Đó đó! Do mùi ôi củasông Hy(2) mà tôi đi – Người này chỉ vào họa tiết như dòng sông màu phân người trong bức họa Nhật bản, ảnh 1– Và cũng do hương thơm của lạc nên tôi ở lại – Người kia chỉ vào 3 họa tiết như 3 củ lạc dựng đứng màu Hung(màu gạch nung) cũng trong bức họa Nhật bản, ảnh 1.
-Ồ… Tiếng ồ kéo dài rõ to như “nước chảy chỗ trũng”. Cử toạ đang chơi với “nỗi buồn”, ngỡ Thánh nhân Lão Lai tử(3) xuống thế, họ bỏ cuộc trở lại thì té… ra vẫn là bà Nothomb người Pháp và ngài Touxten người Ai cập mà chủ toạ Poebens tuyên ngôn đã chầu Giòi(4).

Chú thích:

(1) Gừng vị cay, tính ấm. Tác dụng kích thích tiêu hóa, giải biểu(cho ra mồ hôi), tán hàn(phát tán khí lạnh). Nghệ vị đắng, tính mát. Tác dụng yên Magen(dạ dày), mau chóng lên da non các vết loét… Cả 2 gừng và nghệ đều ích lớn cho Vị(Magen, dạ dày, bao tử).
Thời tiền sử, người Ai cập gọi người Trung hoa là Khương, RợKhương.
(2) Hán tự nhiều âm “Hy”. Chuyện Đổng Thiên Vương hồi 6 Lĩnh Nam chích quái có đoạn: “Phía Tây Bắc nước ta giáp nước Thi La Quỷ. Vua nước ấy tên là Hy Bắc Kịch manh tâm thôn tính các nước xung quanh…” Hyphần, BắcTây Bắc, Kịchquá lắm. Hy Bắc Kịch là Phân Bắc quá lắm. Bạn đọc xem lại phương vị số 6 thành Thủy phương Tây bắc.

(3) Laiđến, đến sau ngược với khứ đi. Thời tiền sử người Trung hoa gọi Lão tử là người từ nơi khác đến. Bạn đọc xem lại lần nữa phương vị số 6 thành Thủy ở trên. Lão tử là con số 6 thành Thủy Lão âm thể Dụng chăng?
(4) Giòiấu trùng ruồi nhặng. Thời tiền sử người Ai cập mệnh danh là Trời(Trời sau, hậu thiên). Tránh phạm húy, người An nam đọc trại Giòi thành Giời cho giống Trời(do âm tiết ơi 2 chữ).

Đổng Thiên Vương trang 58

Giải lao lần này vui hơn trước. Cử tọa đi lại nói cười, đứng lên ngồi xuống, vặn cổ vươn vai y trong sân chơi. Dường như họ muốn xả hết hơi sau 18 phút phải nín thở cho 2 thây ma người nước Lỗ.
-Này Heinrich – Bà Doris chỉ vào 1 chú phệ lùn đứng yên cho 1 cô “lưng eo” ôm lấy bụng mình – Cái gì đây?
-Pflock mit… Cọc và… Ông Heinrich trả lời.
-Tôi không hiểu! Cậu nói tiếng gì thế? – Bà Doris hỏi.
-“Thi bổ”, thứ tiếng người ta dùng diễn văn!
-Làm gì có tiếng đó! Tôi là chuyên gia ngôn ngữ cậu biết?
-Pflock mit hay Büffel und… Cọc và trâu, trâu với cọc đều vậy thôi. Đó là loại từ Chu Văn Vương Lão tử dùng để diễn 1 ý văn, “thi bổ” hoán từ thành thô bỉ. Ông Heinrich ngần ngừ… bỗng có tiếng “tùng cắc”…
-Này Heinrich – Bà Doris chỉ vào ông Touxen và bà Nothomb đóng thế cho cái cọc trâu – Phải chăng do họ người nước Trâu mà ông ví là cọc trâu, trâu cọc? Bà Doris dùng giằng… Lại vẫn tiếng “tùng cắc”… Hai người dỏng tai, giương mắt xem đó là âm gì, từ đâu khởi thì: Đây rồi, đây rồi! Có tiếng ai đó gọi rất to. Cử tọa giật mình ngoái cổ lại thì thấy Chủ tọa Poebens vác trên vai 1 cái trống phương Đông thình thịch từ phòng Hội thảo chạy ra. Nhẹ nhàng đặt cái trống xuống góc sân chơi, ông lên giọng: “Ngôn(tiếng) gió bay, chỉ có Ngữ này là mãi mãi”.
Ngắm nghía 2 cái dùi đỏ đen, ông chủ tọa gõ cái “đen như nhọ” xuốngtâm điểm mặt trống: “Tùng”. Lại gõ tiếp cái “đỏ như sơn” lên tang trống: “Cắc”. Ông mỉm cười ý nhị: “Mời các Ngài vào vị trí tang lễ”. Cử tọa vốn nghiêm lệnh ông Poebens, họ lần lượt xếp thành vòng tròn quanh cái cọc trâu người Lỗ chờ dạo Nhạc. “Nào, tùng cắc tùng cắc, tùng cắc tùng cắc. Dung giăng dung dẻ, dung giăng dung dẻ. Một, Hai”!

Đổng Thiên Vương trang 59

-Rung trăng vui vẻ,
Có 2 em bé,
Một trẻ một già,
Nhầm Mẹ với ma.
-Tùng cắc tùng cắc,
Lộn người sang Bắc.
-Cắc tùng cắc tùng,
Lộn người sang Nam.
-Cắc cắc tùng tùng
Đu người hàng dọc.
-Tùng tùng cắc cắc,
Đu người hàng ngang.
-Kẻ ưa thức khô(1),
Bỏ rô lấy riếc.
-Người ưa thức ướt,
Bỏ cá lấy cà.
-Thực ở lò tơ(3),
Phúc(2) nên giả lép.
-Thực nơi lò nhở(4),
Thả bụng thật tròn.
-Vui vẻ rung trăng,
Một bà 1 ông,
Đã sang Quốc Mẫu,
Lại về Hội thảo.
Tùng tùng cắc cắc, rình rình nhấc nhấc. Cắc cắc tùng tùng, nhấc nhấc rinh rinh,  nhấc nhấc khiêng khiêng! Không ai bảo ai, tất cả cử tọa xúm vào cái “cọc trâu” ông Touxen và bà Nothomb đóng thế. Họ nhấc bổng 2 người lên vai chạy như bay vào phòng Hội thảo. Also, scheissen Dọn!

Chú thích:

(1) Táokhô, táocũng là bếp lò. Bạn đọc xem 2 cái “lò tơ” ở bụng, “lò nhở” ở chân nhân vật “chú lùn” trong 1 bức hoạ Ấn độ (ảnh 1) và cái bếp lò bật nắp của người Trung hoa trong bức hoạ Nhật bản (ảnh 2).
(2) Phúcbụng, phúccũng là lành. Bạn đọc xem cái bụng có chữ phúc lành trên thân PhậtDi lạc (ảnh 3).
(3) Vần “ôn”. Bạn đọc xem hoạ tiết như 6 cái đầu con rắn ở vành mũ nhân vật tượng cho quẻKhôn tiên thiên Trời trước Ấn độ (ảnh 4).
(4) Vần “ôn”. Bạn đọc xem hoạ tiết như 6 nửa dấu ngoặc đơn giữa trán nhân vật tượng cho quẻKhôn hậu thiên Trời sau Ai cập trong bức hoạ Ấn độ (ảnh 5).

(1) Phạn = Restaurand = Táo(bếp lò). Chúng tôi đang tìm cái Thiên táo(bếp của Trời), chủ nhân các loại Táo quân(bếp của vua, vương ngôi thần thứ) trong bức họa Nhật bản ảnh 2.
Bức họa nhìn lên phương Bắc thì bên phải người xem hình là Tây. Bạn đọc nhìn sang phải: Dưới cái ống thổi lửa hình chữ nhật, chất liệu bạch kim Platin kền là hình nhân 1 ông Lão đầu tóc bạc trắng(màu trắng bạch, bạc thuộc Kim, Kim sinh thành tại Ấn độ). Lão không có chân(dường như đôi bàn chân, gốc rễ của 1 con người đang đặt ở nơi nào đó ở dưới) mà mặc cái áo Blutbeisspiele Huyết dụ(màu đặc trưng bầu Trời Ai cập, bạn đọc xem lại bức họa số 6 thành Thủy của Ấn độ ở trên). Bên trái ông Lão(phía xa, sau cái Nhà bếp lò) của người Trung hoa là Kim Tự Tháp Giza Ai cập. Hình nhân kia là Lão tử? Ông muốn dẫn dụ gì trong bức họa này?
Những năm 1800 “Vấn đề Ai cập” còn nóng bỏng. Phái Philmorismus vẫn ra sức luận cho tư tưởngNhất nguyên: Sự sống trái đất bắt đầu từ 1 vùng đất to lớn. Vái chào Grosseschnumpe Ấn độ, theo bàn chân trái bước ra trước của Phật Di Lạc, các nhà khoa học đến làm khách xứ Kleineschnumpe. Vừa “chân ướt chân ráo” tới Tây tạng họ gặp ngay Thái thượng Lão quân, 1 nhân vật huyền thoại thời Chiến Quốc.

Đổng Thiên Vương trang 60

 -Thưa các ngài – Như từ trong đám tang thực sự bước ra, chủ tọa Poebens trở lại cương vị – Hơn nửa thời gian, hội thảo Pharaon đã chứng minh cái gọi vua Ai cập là ngôi vị thứ 2_số II, phần thân 1 giống vật, Nhỏ – cái âm vật nhỏ, chữ A lớn,… Còn non nửa dặm đường967_Thien-ly-cauThiên Lý câu(1) (ngựa 2 năm tuổi Ai cập ảnh 1) chúng ta phải tìm được “Ai đó” ngôi vị thứ nhất_số I, nửa đầu 1 giống vật, Lớn – cái âm vật lớn nhất, chữ I lớn… Trước khi sang vấn đề nổi cộm China tôi đề nghị chúng ta chắp nối các sự kiện.
Dong thien vuong trang 60 - anh 1
Cử tọa hiểu ý ông Poebens, họ ghép các mảng từng bức họa lại với nhau. Tiếng sột soạt tranh ảnh giấy tờ cùng ờ-Ja, no-yes… nhộn nhịp. Không khí Hội thảo sống lại sau 18 tiếng mặc niệm.
-Ông Heinrich – phì phèo điếu xì gà trên môi, bà Nothomb hỏi.
-Lửa cháy Cung A phòng – tay cầm cuốn Đông chu Liệt quốc, ông Heinrich trả lời.
Bà Nothomb định hỏi ông Heinrich điều gì đó trong bức họa 3 con Ngan(ngỗng mái Wildgoose) Ai cập ảnh 2, nghe 2 tiếng “lửa cháy” bà nhìn ngược lên mái tóc mờ mịt khói thuốc lá của mình.
-Ông Heinrich, hạn ở bức họa này có liên quan gì đến hin trong chữ Hin’du, Hin’du’ismus không – bà Nothomb.
-Là một, bà xem: Con đi trước đang Phoen’ix = Phạn “ăn cơm” của Indo, 2 con bé đi sau của Ai cập. Cả 3 đặt trên 1 nền đất khô hạn, nứt nẻ. Đất phía 2 con ngan Ai cập khô hạn, nứt nẻ, cang cực hơn nên âm “hin” trong Hin’du = hán cũng = hạn.
-Người Trung hoa gọi người Ấn độ là Tây Hán, người Ai cập là Nam Hán cũng do vậy phải không?
-Vâng Thủy, Hỏa, Lửa và nước… Ông Heinrich chỉ tay xuống mõm đôi giày cong như 2 cái ghe của bà Nothomb.
Ý tứ nhìn xuống dưới, chả là sau vai diễn cái “cọc trâu” ngoạn mục, mồ hôi có thể chảy ướt áo, bà Nothomb nghĩ vậy:
-Ông chỉ trỏ cái gì thế?
-Tôi đang nghĩ về Cung a phòng. A là chữ cái đầu tiên hệ Latinh, phòng zimmer nhỏ hơn Haus nhà, phòng nằm trong nhà…
-Còn Cung – Bà Nothomb nôn nóng.
-Tôi đang định nghĩa chữ Cung nhưng khó quá. Nhất là trước người đẹp như bà ngôn tôi không được tục – ông Heinrich.
-Thì ông cứ “ngôn tục” mà “giảng thanh”. Y học coi cung chỉ vài ba lạng, nào ai chê ít chê nhiều.
Dong thien vuong trang 60 - anh 2
Ông Heinrich vẽ 1 vòng tròn từ chân lên đầu sang cả 2 tai bà Nothomb rồi dừng lại ở cái mũi của mình. Còn bà Nothomb dõi theo ngón tay trỏ chàng Tây ngộ nghĩnh, đôi môi mỏng dính cong lên, bà chờ thêm một lời khen.
-Cung là… Quay mặt giấu cái ho lặc khặc, bất ngờ ông Heinrich trở lại chỉ vào cái miệng xinh đẹp của bà Nothomb _ cung là… Lò… òn!
Ngớ người ra một lúc bà Nothomb mới nhận ra đó là gạo tẽ, Hồ nam gọi là gạo lòn. “Cung là gạo lòn” – bà lẩm bẩm – Cung A phòng là cái gạo Lòn a cấp phòng Đông Hán trong cái nhà công KatholischeMission Tây Hán.
-Đúng Arbres là vùng đất của hạn hán nắng lửa – bà Nothomb.
-Đó là thứ Lửa hữu hình đốt cháy cái gạo Lòn Chi304_China210_Na, một ấp, nhánh, trang, chi của Indo – ông Heinrich(2).
-Không sai, đó cũng là thứ Lửa vô hình quẻ Kiền Trời sau Schlechtland nước Liệt thể Nguyên Original. Biểu tượng là lâu đài xây bằng Ziegelrot gạch nung Hung phương Tây nam trong bức họa quẻ Khôn Trời trước Ấn độ ảnh 3.
-Và cũng không sai khi nói rằng: Ngũ hành tương khắc Thủy khắc Hỏa. Nhưng… nếu Hỏa vượng thì Thủy sẽ sợ mà suy yếu. Đây là pháp(phép) tương úy trong 5 cái tương quan của Ngũ hành(3).
Dong thien vuong trang 60 - anh 3
-Lửa cháy Cung a phòng – cả 2 bà Nothomb và ông Heinrich – là một thiên anh hùng ca trong cuốn văn học sử Đông341_Dongchu199_chuLiệt70_Lietquốc126_Quoccủa người China bàn về 1 giống người gọi Hung nô đến cao nguyên Tây757_Taytạng654_Tang ; Họ mệnh danh Trời, “thay Trời hành96_Phatđạo183_dao”giáo Lehre dạy người Hán.
Khúc song ngôn của bà Nothomb và ông Heinrich chưa kịp dừng lại ở âm “han” thì hàng tràng pháo tay nhiệt liệt. Giữa chiều tà xứ sở Hỷ Lạc, trong căn hầm 18 vạn muôn m2 dành cho Hội thảo Pharaon này; Người ta khó phân biệt đâu tiếng chó sủa, đâu tiếng nồi niêu bát đĩa sau dậu bờ và… đây là tiếng trống “tùng tùng” của chủ tọa Poebens: “Lạy Giòi”, đã đến giờ Imbiss – Điểm Tâm!

Chú thích:

(1) Trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử có 6 chữ “Kìa bóng câu, kìa vẩn bụi”. Kìa bóng câu: Ngựa 2 năm tuổi Ai cập đã ngã bóng sang China. Kìa vẩn bụi: Cát bụi xứ Trần Ai đã vẩn đỏ sang vùng đất Đông Hán.
(2) Heinrich Werner, Ägyptenland ist oft sehr heiss, Vienna Mai 1892.
(3) Theo Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Tư Mã Thiên sử ký.

Đổng Thiên Vương trang 61

Cử tọa nhìn những cái Hậu88_HauPhạn957_PhanAnat Schlüsselbein ảnh 1ảnh 2 của người Indo Á châu; Họ cầm lấy xiên dao tản mát tìm bạn nhậu.
Anh 1 + 2
Không để mọi người chờ lâu, ông Poebens cất giọng trịnh trọng: “Thưa quý bà, quý ông! Sau 1 ngày làm việc khẩn trương, hôm nay có bà Doris phái Duy thực(1), đã đến giờ phạn tục, chúng ta cùng ăn cơm”.
-Ôi, cơ man nào là những món ăn! Bà Doris, chúng tôi ngồi ở đâu?
-Cử tọa Á châu hở? Các ngài Lý189_Lygiẫm lên đôi Lý189_Lydép cụ Nhật hoàng ảnh 3 hoặc Lý Gesetz xéo lên đôi Lý Gesetz bỏ ngỏ cụ Thái thượng Lão quân Hồ nam Trung hoa bức họa ảnh 4. Và… có thể xỏ vào đôi Sandale nhân vật Asin châu Á trong bức họa Hy lạp Asiatisch với cha Sam ảnh 5.
Anh 3 + 4
-Còn chúng tôi, thưa bà Doris?
-Cử tọa Âu châu ư?… Chúng ta cùng xem bức họa Hy lạp ảnh 6. Cái vẩy tên(cung tên) vệ744_Vekhí VEDA mở hướng sang bên trái. Quốc gia Hy lạp khởi nguyên cho các vùng đất Âu châu. (Bạn đọc có thể thấy họa tiết chữ Nguyên màu Giefarbe Trăm tuổi góc trái trên bức họa ảnh 7 quốc gia này. Hai chân, chân phải đi Lý Gesetz ủng, giày. Tiếp lên là chữNhatnhất 1 vạch ngang cấu thành chữ Ngột46acao ngây ngất bằng đầu. Tiếp lên nữa cũng 1 nét chữNhatnhất, toàn bộ hoạ tiết là chữ Nguyên46bto lớn, khởi)… Các ngài cứ xỏ chân vào đôi Stiefel giày ống hoặc chân trần những hình nhân bên phải bức hoạ Hy lạp ảnh 7 ấy.
Anh 5 + 6anh 7anh 8-Vậy còn những hình nhân bên trái bức hoạ, họ đi nửa giầy nửa dép là ai?
-Chúng ta đang truy tìm dấu chân của Triết gia Lão Tử, hình nhân to lớn cưỡi trâu ảnh 8. Ông thuộc tộc317_Toc(họ, loài) đi Lý189_Lydép, loài có vẩy… ở bức hoạ Ai cập ảnh 9. Ngài thấy trong cùng 1 quốc gia có những 2. Hai hình nhân đi dép tay cầm sừng dê bên phải bức hoạ là Blutsverwandte Nội tộc(loài trong). Hai hình nhân chân trần tay cầm cái348_KhaKha(2)(búa, rìu), vịn vào thành(tường đất) bên trái bức hoạ là Verwandte Ngoại tộc(loài bên ngoài) Ai cập.
anh 9
-Căn cứ vào đâu bà cho rằng là 2 hình nhân cầm sừng dê Loài Nội tộc Ai cập?
-Tôi căn cứ vào câu: “…Lượn gió lốc, xoáy sừng dê” trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử hình 1 và phương vị chi Mùi(con dê) trong 12 địa chi thuyết Can chi hình 2.
Hinh 1 + 2

Chú thích:

(1) Duy thực: Chiêm nghiệm thực chất Experimentell Thực nghiệm là duy nhất đúng. Phái này chống lại phái Duy danh. Duy danh Phil Nominalismus: Căn cứ vào tên gọi là duy nhất đúng. Cả 2 phái Duy thực và Duy danh thuộc trường phái Triết học Tây âu thời Trung cổ.
(2) Kha là cái cán búa rìu. Bạn đọc sẽ thấy nó trong danh gọi TutanKhamun Pharaon Ai cập ảnh dưới và vụ ám sát hụt Tần Thủy Hoàng rồi tự tử của nhân vật Kinh595_KinhKha348_Khathời Đông chu Liệt quốc.
Pharaon Tutan Khamun

Đổng Thiên Vương trang 62

-Ôi Doris thật tuyệt vời! Còn lại chúng tôi, 3 cử tọa người China, Arbres, Indonesia bà Duy thực cho đứng ở đâu?
-Quắc Timua, ngài nhỏ con ngồi vào vị hình nhân “lụ khụ như mụ già” bên phải bức họa Indo Á châu ảnh 1 ấy. Nhớ thò bàn chân trái không giày dép ra giao chi với tay phải, đó là Java cụ tổ của các ngài đấy.
Dong thien vuong trang 62 - anh 1-Indonesia chúng tôi cũng là Veland nước Vệ ư?
Java vâng, va ve vệ744_Vekhí, nói tới khí là nói tới VEDA. Lịch sử hình thành Quốc gia Indonesia do 2 công50_Congty37_tyĐông Ấn và Tây Ấn. Mời các ngài ngồi xuống.
-Ngồi bệt xuống sàn bếp lát những viên gạch vuông hình chữhinh-vuongkhẩu là cái phạn957_Phanhàm miệng ư, tại sao vậy?
-Vâng, Kinh dịch nói “tượng đất vuông”. Hình vuông khi 4 cạnh bằng nhau nghĩa đất ở đó vẫn còn yên, nằm. Nhưng khi 2 cạnh bên dài lên trên như chữ khẩuHCNdựng đứng nghĩa đất ở đó đã vùng dậy trước khi có 1 chủng Rasse loài từ nơi khác đến.
-Chủng người nào đến với chúng tôi thưa bà Doris? Ngài Quắc hỏi.
-Hãy nhìn sang trái. Hình nhân 1 ống kính nheo mắt như các Pharaon Ai cập, cái mũi1014_Tytỵ, ông thủy tổ là Hán Tibe(1) đã từng đến Java các ngài.
-Ký hiệu âm nhạc dấu lặng đendau lang dengiữa tai phải hình nhân Indo Á châu ý gì thưa bà Doris?
-“Mỗi người mỗi phách lối”. Quắc Timua(1), ngài hãy bịt tai phải đừng nghe cái nhà ông Bahoa kia nói gì.
-Hình nhân bên trái bức họa có cái mũi dài, giữa phình to như hạt lạc(đậu khấu) dưới đó là nụ cười Kungfus của sự hỗn độn, gượng gạo phô diễn 3 cái răng cửa hàm trên, ông ấy là ai vậy?
– Hán Tibét đấy. Cũng thò bàn chân phải không giày dép ra, đưa ngón tay trỏ(ngón thứ) lên ông ấy nói rằng: Giống Tây tạng là số 1, vốn là loài man741_mandi xuất từ xứ Trùng, tơ tằm nhện. Nhưng dưới ống kính ông Thủy tổ Tibe(1), Ngài cũng là “áo vải chân trần” bởi Tibe’t đích thị là âm vật của con bê.
Dong thien vuong trang 62 - anh 2-Hán Tibét(1) khiêm tốn tự nhận mình là âm bản của ông Thủy tổ1014_TyTỵ, tôi đâu thấy ông Ba hoa? Ngài Quắc hỏi.
-Chúng ta cùng xem lại bức họa Nhật bản ảnh 2 – Bà Doris – Hình nhân nguyên sắc đen, áo đỏ với 3 bông hoa biến sắc ngồi lên cái xương chậu Con Ma cúi mặt dường như đang phóng xuống bờ Bắc sông Phẫn438_phanlà ông Ba hoa. Dòng nước vàng Thủy397_thuyhoàng1006_Hoang(2) chảy qua Tây tạng China, tiếp sau lưng người Hàn Triều tiên, dựng sóng thần xoáy từ phải sang trái theo chiều Ngũ hành tương khắc, sau đó rắc xuống chân người Nhật Phù tang(hình nhân đứng, tay cầm tờ lịch hình chữ Nhật319_Nhatmặt trời). Ngài nhìn phía xa nền trời tối đen. Khi sông Hy chảy sang Đông Chu đã có 2 vùng đất khởi. Đó là Quốc gia Môn Myama(họa tiết hình chữ khẩu bé bên trái) và Quốc gia Java Indonesia(hình chữ khẩu lớn ở giữa).

Chú thích:

(1)Danh gọi: Tibe cho Arbres, Tibét cho China, Timua cho Indonesia của History Sử ký.
(2)Theo Tần Thủy Hoàng bản ký, Tư Mã Thiên sử ký.

Ung thuĐang cập nhật…
Phù Đổng Thiên Vương trang 63

(1b) Số thứ tự của 10 can (can chi): Giáp số 1, ất số 2, bính số 3, đinh số 4, mậu số 5, kỷ số 6, canh số 7, tân số 8, nhâm số 9, quý số 10 được xếp theo từng cặp 1 số sinh 1 số thành của Ngũ hành nên tuổi người đứng ở can giáp hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can kỷ (số 1 hợp số 6, giáp hợp kỷ).Tuổi người đứng ở can ất hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can canh (số 2 hợp số 7, ất hợp canh).Tương tự bính hợp tân (số 3 và số 8), đinh hợp nhâm (số 4 và số 9), mậu hợp quý (số 5 và số 10).

Tháng Tư 2019
H B T N S B C
« Th3    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930